vanban.org

Bản án 44/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của chị Võ Thị Thảo Ng về việc xin ly hôn anh Nguyễn Hoàng N.

Về con chung: Giao cháu Nguyễn Thị Thảo Nh, sinh ngày 29/10/2014 cho anh Nguyễn Hoàng N tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng. Không đặt ra nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con. Chị Võ Thị Thảo Ng có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc và giáo dục con chung mà không ai được cản trở. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của chị Võ Thị Thảo Ng về việc xin ly hôn anh Nguyễn Hoàng N.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ CÀ MAU
TỈNH CÀ MAU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 44/2023/HNGĐ-ST
Ngày 20 – 3 – 2023
Về việc xin ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CÀ MAU, TỈNH CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Lê Thị Thu. Các Hội thẩm nhân dân:

- Ông Tạ Bửu Thương.

- Ông Nguyễn Hoàng Dân.

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Bích Như, là Thư ký Toà án nhân dân thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau.

Ngày 20 tháng 3 năm 2023 tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 720/2022/TLST-HNGĐ ngày 22 tháng 12 năm 2022 về việc xin ly hôn, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 21/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 10 tháng 02 năm 2023 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Võ Thị Thảo Ng, sinh năm 1997 (có mặt).

Nơi cư trú: ấp L, xã K, huyện T, tỉnh Cà Mau.

- Bị đơn: Anh Nguyễn Hoàng N, sinh năm 1990 (vắng mặt).

Nơi cư trú: ấp M, xã T, thành phố C, tỉnh Cà Mau.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Theo đơn khởi kiện về việc xin ly hôn và quá trình giải quyết vụ án được bổ sung tại phiên tòa, chị Võ Thị Thảo Ng trình bày:

Về hôn nhân: Chị và anh Nguyễn Hoàng N chung sống vợ chồng vào năm 2013, đến ngày 22/8/2017 đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Tắc Vân, thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau. Trong quá trình chung sống thời gian đầu hạnh phúc, sau đó phát sinh mâu thuẫn, do tính tình không hợp nhau, bất đồng quan điểm và đã ly thân từ năm 2018. Nay chị xét thấy cuộc sống không hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được, không còn tình cảm nên chị yêu cầu ly hôn anh N.

Về con chung: Có 01 con chung tên Nguyễn Thị Thảo Nh, sinh ngày 29/10/2014 hiện cháu đang ở với anh N. Khi ly hôn, chị đồng ý giao con cho anh N tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng. Không đặt ra nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con.

Tài sản chung: Chị xác định không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Chị khai không nợ ai và không ai nợ lại anh, chị.

- Đối với anh Nguyễn Hoàng N, mặc dù đã được Tòa án tống đạt, niêm yết hợp lệ nhiều lần đến phiên tòa để tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, hòa giải và xét xử vụ án nhưng anh N vẫn không có mặt để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Về tố tụng: Anh Nguyễn Hoàng N đã được tống đạt, niêm yết hợp lệ để tham gia phiên tòa nhưng anh N vắng mặt không lý do nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt đương sự theo quy định tại Điều 227, Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về hôn nhân: Chị Võ Thị Thảo Ng và anh Nguyễn Hoàng N chung sống vợ chồng vào năm 2013, đến ngày 22/8/2017 đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Tắc Vân, thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau nên hôn nhân hợp pháp và được pháp luật công nhận bảo vệ. Trong quá trình chung sống theo chị Ng xác định thời gian đầu hạnh phúc, sau đó xảy ra mâu thuẫn, do tính tình không hợp nhau, bất đồng về quan điểm và đã ly thân từ năm 2018. Nay chị xét thấy cuộc sống không hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được, không còn tình cảm nên chị yêu cầu ly hôn anh N. Đối với anh N không đến Tòa án tham gia phiên tòa, cũng không gửi văn bản trình bày ý kiến về việc chị Ng xin ly hôn. Xét thấy: Đời sống hôn nhân của anh, chị đã thực sự không còn, mâu thuẫn là có xảy ra, anh chị có thời gian dài ly thân, anh N không có biện pháp hàn gắng vợ chồng, vì vậy Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của chị Ng, cho chị được ly hôn anh N.

Về con chung: Chị N xác định có 01 con chung tên Nguyễn Thị Thảo Nh, sinh ngày 29/10/2014 hiện cháu đang sống với anh N. Khi ly hôn, chị đồng ý giao con cho anh N tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng. Đối với anh N không đến Tòa án cũng không gửi văn bản trình bày ý kiến về việc nuôi dưỡng chăm sóc, con chung. Xét thấy, hiện cháu Nh đang sống với anh N, nguyện vọng cháu cũng muốn sống với cha nếu cha mẹ ly hôn và tránh xáo trộn cuộc sống sinh hoạt nên Hội đồng xét xử thống nhất giao cháu Nh cho anh N tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng. Chị Ng không trực tiếp nuôi con được quyền đến thăm nom, chăm sóc và giáo dục con chung, không ai được cản trở.

Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con: Quá trình giải quyết và tại phiên tòa, chị Ng xác định không đặt ra nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con. Đối với anh N không gửi văn bản trình bày về việc nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con. Do các đương sự không đặt ra nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về tài sản chung: Chị Ng xác định không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đề cập xem xét;

Về nợ chung: Chị Ng khai vợ, chồng không nợ ai và không ai nợ lại vợ, chồng nên không đặt ra giải quyết.

Nguyên đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án ly hôn theo quy định tại điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ các Điều 51, 56, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 227, Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.

- Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

- Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của chị Võ Thị Thảo Ng về việc xin ly hôn anh Nguyễn Hoàng N.

- Về con chung: Giao cháu Nguyễn Thị Thảo Nh, sinh ngày 29/10/2014 cho anh Nguyễn Hoàng N tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng. Không đặt ra nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con.

Chị Võ Thị Thảo Ng có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc và giáo dục con chung mà không ai được cản trở.

- Về tài sản chung: Chị Ng khai không có.

- Về nợ chung: Chị Ng khai không có.

- Án phí dân sự sơ thẩm về Hôn nhân và gia đình, chị Võ Thị Thảo Ng phải chịu 300.000đ. Ngày 21 tháng 12 năm 2022, chị Ng đã dự nộp tiền tạm ứng án phí 300.000đ theo biên lai số 0002636 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Cà Mau nên được đối trừ chuyển thu sung công quỹ nhà nước.

Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ