- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Hôn nhân bà Trân ly hôn với ông Nam"
- Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu của bà Lâm Nguyễn Huyền T.
- Căn cứ chính? Điều 144 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TT | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH AN GIANG Số: 44/2023/HNGĐ-ST Ngày: 16- 8-2023. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TT – TỈNH AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Văn Huệ.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Néang Sâm Bô;
2. Bà Vanh Si Tha.
- Thư ký phiên tòa: Ông Chau Chanh Đô Ra - Thư ký Tòa án nhân dân huyện TT.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện TT tham gia phiên tòa: Bà Trầm Ngọc Minh Thư – Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 8 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tri Tôn, tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình sơ thẩm thụ lý số: 138/2023/TLST-HNGĐ, ngày 31 tháng 5 năm 2023 về: “Tranh chấp ly hôn”, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 69/2023/QĐXX- DS ngày 13 tháng 7 năm 2023 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Lâm Nguyễn Huyền T, sinh năm: 1990; địa chỉ cư trú: Số 60, Võ VY, Khu phố 1, phường PĐ, thành phố HT, tỉnh Kiên Giang.
Bị đơn: Ông Ngô Hoài N, sinh năm: 1988; địa chỉ cư trú: Tổ 10, khóm 5, thị trấn TT, huyện TT, tỉnh An Giang.
(Tại phiên tòa bà T, ông N cùng vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện ngày 12/5/2023 với các tài liệu kèm theo cũng như quá trình tố tụng tại tòa, bà Lâm Nguyễn Huyền T trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Quan hệ hôn nhân giữa bà với ông N được hình thành là do tự quen biết, được cha mẹ đứng ra tổ chức đám cưới cho hai người vào năm 2014, hôn nhân có đăng ký kết hôn ngày 19/11/2014 tại UBND thị trấn TT, huyện TT, tỉnh An Giang. Cuộc sống chung hạnh phúc đến năm 2016 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do bất đồng quan điểm, ông N thầm lén gây nợ, ban đầu vì tin tưởng ông N làm ăn thua lổ nên bà đã thuyết phục cha mẹ ruột cho ông N vay tiền để trả nợ, nhưng ông N vay nhiều lần không trả mà gây nợ nhiều hơn, khi hỏi nguyên nhân nợ thì ông N không khai nên vợ chồng thường xuyên cải vã, bà vì con còn nhỏ nên bỏ qua, tuy nhiên càng bỏ qua thì ông N càng lấn tới rồi tự ý lấy trang sức của hồi môn bán hết mà không cho bà hay biết. Chẵng những vậy ông N còn lấy tài sản cha mẹ ruột bà đem cầm bên ngoài mà không hỏi ý kiến ai, nên làm mất niềm tin của bà đối với ông N, dẫn đến mâu thuẫn trầm trọng và ly thân nhau từ tháng 12/2022 đến nay. Trong thời gian ly thân gia đình bỏ mặt, bản thân ông N cũng không liên lạc hỏi thăm con. Nay bà xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, bà xin ly hôn với ông N.
Về quan hệ con chung: Bà với ông N có 02 con chung tên: Ngô Bảo C, sinh ngày 22/8/2015; Ngô Bảo L, sinh ngày 06/02/2023. Hiện 02 con do bà nuôi. Khi ly hôn bà yêu cầu tiếp tục nuôi và không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.
Về quan hệ tài sản chung: Bà với ông N không có tài sản chung.
Về quan hệ nợ chung: Bà với ông N không có nợ chung.
Tòa án đã thông báo hợp lệ cho ông Ngô Hoài N để tham gia phiên họp công khai chứng cứ và hòa giải, nhưng ông vẫn vắng mặt không lý do.
Tại phiên tòa, bà T có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, bảo lưu ý kiến của mình. Riêng ông N đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai để tham dự phiên tòa nhưng ông vẫn vắng mặt.
Quan điểm của Kiểm sát viên:
Về tố tụng: Tòa án thụ lý giải quyết đúng theo trình tự thủ tục, xác định đúng quan hệ tranh chấp và thẩm quyền xét xử. Trong quá trình tiến hành tố tụng, Thẩm phán cũng như Hội đồng xét xử (HĐXX) đã tuân thủ đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự, đương sự trong vụ án cũng đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình.
Về nội dung: Bà T – ông N chung sống có đăng ký kết hôn, nên được xem là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống hai người mâu thuẫn do bất đồng quan điểm và ly thân nhau, hiên ông N không quan tâm gia đình, chăm lo con…nên bà T xin ly hôn là có căn cứ. Về con chung, cháu Ngô Bảo C, hiện trên 07 tuổi có ý nguyện tiếp tục sống với mẹ, còn Ngô Bảo L chưa đủ 12 tháng tuổi rất cần sự chăm nom của của mẹ, nên đề nghị HĐXX chấp nhận cho bà T tiếp tục nuôi 02 con chung. Về tài sản chung và nợ chung không xem xét. Từ phân tích trên đề nghị HĐXX xem xét quyết định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, quan điểm của Kiểm sát viên. HĐXX nhận định:
. Về thủ tục tố tụng: Bà T khởi kiện: “Tranh chấp ly hôn” với ông N, là thuộc thẩm quyền của Tòa án được quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự; ông N có địa chỉ cư trú tại thị trấn TT, huyện TT, nên căn cứ vào khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân huyện TT thụ lý giải quyết đúng thẩm quyền. Bà T có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, còn ông N được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không lý do, nên HĐXX xét xử vắng mặt theo Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.
. Về quan hệ hôn nhân: Bà T – ông N kết hôn và chung sống với nhau vào năm 2014, hôn nhân có đăng ký kết hôn tại UBND thị trấn TT, huyện TT, theo giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 129 ngày 19/11/2024, nên xem là hôn nhân hợp pháp.
Tuy vắng mặt tại phiên tòa, nhưng đơn đề nghị xét xử vắng mặt của bà T vẫn bảo lưu ý kiến của mình, thể hiện do ông N làm ăn gây nợ lấy tài sản chung và tài sản của cha mẹ vợ bán, cầm có mà không thông qua bà nên mâu thuẫn và ly thân nhau đã lâu, gia đình bỏ mặt.
Qua trình bày của bà T, mặc dù ông N vắng mặt, nhưng tại biên bản xác minh vào các ngày 12/7/2023; 23/7/2023 của Tòa án thể hiện: N tự bỏ nhà đi từ trước năm 2023, N đi đâu không cho Trân biết, vợ chồng T – N không liên lạc nhau. Khi T sinh con, N không bên cạnh chăm lo, chia sẽ, khã năng T – N hàn gắn lại là không thể…
Với những chứng cứ thu thập vừa nêu, xét mâu thuẫn giữa bà T – ông N đã thật sự trầm trọng; đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, HĐXX nghĩ nên chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà T.
. Về quan hệ con chung: Xét thấy 02 con chung tên Ngô Bảo C, hiện trên 07 tuổi có ý nguyện tiếp tục sống với mẹ, còn Ngô Bảo L, sinh ngày 06/02/2023 tính đến nay chưa đủ 12 tháng tuổi rất cần sự chăm nom của của bà T, nên HĐXX chấp nhận cho bà T tiếp tục nuôi 02 con chung là hoàn toàn phù hợp.
Thông qua bản án, HĐXX cũng giải thích cho bà T biết: Trong thời gian nuôi con, bà cùng người thân trong gia đình không được cản trở ông N trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con và theo yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức quy định tại khoản 5 Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con.
Theo quy định của pháp luật, khi ly hôn bên không nuôi con phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con, nhưng bà T không yêu cầu nên HĐXX công nhận sự tự nguyện.
. Về quan hệ tài sản chung và nợ chung: Bà T khai không có tài sản chung, không có nợ chung. Tuy nhiên do ông N vắng mặt, nên HĐXX không xem xét và không đề cặp ở phần quyết định. Nếu sau này ông N có chứng cứ khác chứng minh có tài sản chung và có nợ chung và ông n có yêu cầu thì Tòa án sẽ xem xét thụ lý giải quyết theo quy định của pháp luật.
Về án phí: Bà T là nguyên đơn nên phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm; các bên không phải chịu án phí nào khác.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ các Điều 56, 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình; các Điều 144, 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội về án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu của bà Lâm Nguyễn Huyền T.
Về quan hệ hôn nhân: Bà Lâm Nguyễn Huyền T được ly hôn với ông Ngô Hoài N.
Về quan hệ con chung: Bà Lâm Nguyễn Huyền T được tiếp tục nuôi hai con chung tên: 1/ Ngô Bảo C, sinh ngày 22/8/2015; 2/ Ngô Bảo L, sinh ngày 06/02/2023
Công nhận tự nguyện của bà T không yêu cầu ông N cấp dưỡng nuôi con.
Bà T cùng người thân trong gia đình không được cản trở ông N trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
Theo yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức quy định tại khoản 5 Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con.
Về án phí: Bà Lâm Nguyễn Huyền T phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, được chuyển từ 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0010072 ngày 22/5/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện TT (bà T nộp đủ).
Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (16/8/2023), đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
(Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự).
T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
| Nơi nhận: - TAT; - VKS huyện; - THADS để thi hành. - UBND tt TT; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ; - Vp. | Lê Văn Huệ |