vanban.org

Bản án 44/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Nguyễn Thị Bích T. Chị Nguyễn Thị Bích T được ly hôn với anh Nguyễn Nhị H.

Về con chung: Giao cho chị Nguyễn Thị Bích T được trực tiếp nuôi dưỡng hai con chung chưa thành niên tên Nguyễn Bích Khả K, sinh ngày 25/11/2006 và Nguyễn Bích Khả D, sinh ngày 25/11/2006. Tạm thời, anh H không phải nộp cho Chị T tiền cấp dưỡng nuôi con. Không ai được cản trở quyền đi lại thăm nom v… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn, tranh chấp ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Nguyễn Thị Bích T. Chị Nguyễn Thị Bích T được ly hôn với anh Nguyễn Nhị H.
  • Căn cứ chính? Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TRẢNG BOM
TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 44/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 20-4-2023
V/v Ly hôn, tranh chấp nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

---

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẢNG BOM, TỈNH ĐỒNG NAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Đặng Thị Ngọc Loan

Các hội thẩm nhân dân: Ông Đinh Ngọc Hùng và ông Đặng Quang Hoạch

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hải Yến - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Trảng Bom

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Ông Cao Văn Bình - Kiểm sát viên

Ngày 20 tháng 4 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai, Tòa án xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 131/2023/TLST-HNGĐ, ngày 17 tháng 02 năm 2023 về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 31/2023/QĐST-HNGĐ, ngày 03/4/2023 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Bích T, sinh năm 1985. Nơi cư trú: Số 77/4, khu 2, ấp T, xã H, huyện T, tỉnh Đồng Nai.

- Bị đơn: Anh Nguyễn Nhị H, sinh năm 1981. Nơi cư trú: Số 77/4, khu 2, ấp T, xã H, huyện T, tỉnh Đồng Nai.

(Chị T, anh H vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Trong quá trình chuẩn bị xét xử, nguyên đơn Nguyễn Thị Bích T trình bày: Chị và anh Nguyễn Nhị H tự nguyện kết hôn, được UBND xã Hố Nai 3, huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai cấp giấy chứng nhận kết hôn ngày 14/3/2003. Vợ chồng anh chị chung sống có 03 con chung tên Nguyễn Anh H, sinh ngày: 25/5/2002; Nguyễn Bích Khả K, sinh ngày 25/11/2006; Nguyễn Bích Khả D, sinh ngày 25/11/2006.

Nguyên nhân chị xin ly hôn với anh H là do vợ chồng anh chị không hợp tính tình, không hạnh phúc, vợ chồng không hiểu nhau, thường xuyên xảy ra mâu thuẫn. Nay tình cảm của chị dành cho anh H không còn nên đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh H. Về con chung: Cháu Hào đã thành niên nên chị không yêu cầu Tòa án giải quyết. Đối với cháu Kỳ và cháu D chưa thành niên, chị yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng, tạm thời không yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết. Về nợ chung: Không có.

- Trong quá trình chuẩn bị xét xử, bị đơn Nguyễn Nhị H trình bày: Quá trình đăng ký kết hôn, con chung như Chị T trình bày là đúng. Trong cuộc sống vợ chồng anh chị có xảy ra mâu thuẫn, tuy nhiên đó chỉ là những mâu thuẫn nhỏ trong gia đình. Anh cho rằng nguyên nhân Chị T ly hôn là vì anh không chăm sóc vợ và thiếu sự thống nhất về kinh tế trong gia đình. Anh cũng cho rằng vợ chồng anh không nói chuyện với nhau từ tháng 9 năm 2022 nên đề nghị Tòa án hòa giải cho anh. Việc Chị T ly hôn anh H không đồng ý. Về con chung, anh H tôn trọng ý kiến của các con chung về việc con muốn ở với ai. Về tài sản chung: Vợ chồng tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Về nợ chung: Không có.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bom phát biểu ý kiến: Trong quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Về đường lối giải quyết vụ án: Đề nghị Tòa án giải quyết cho chị Nguyễn Thị Bích T được ly hôn với anh Nguyễn Nhị H. Về con chung: Đề nghị Tòa giao cho Chị T được nuôi cả 02 con chung chưa thành niên tên Nguyễn Bích Khả K, sinh ngày 25/11/2006; Nguyễn Bích Khả D, sinh ngày 25/11/2006. Tạm thời, anh H không phải nộp cho Chị T tiền cấp dưỡng nuôi con. Chị T phải nộp án phí dân sự sơ thẩm về việc ly hôn theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng:

[1.1] Tranh chấp giữa các bên là “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”. Căn cứ khoản 1 Điều 28 Bộ Luật tố tụng dân sự năm 2015, tranh chấp thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai.

[1.2] Chị Nguyễn Thị Bích T và anh Nguyễn Nhị H có đơn xin xét xử vắng mặt, căn cứ vào khoản 1 Điều 227; Điều 228; Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt Chị T, anh H.

Xét yêu cầu của nguyên đơn thì thấy:

Về yêu cầu xin ly hôn: HĐXX xét thấy: quan hệ giữa Chị T và anh H là quan hệ hôn nhân hợp pháp vì anh chị lấy nhau tự nguyện, được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận kết hôn. Mâu thuẫn phát sinh vì Chị T cho rằng chị và anh H chung sống không hợp tính tình, không hạnh phúc, thường mâu thuẫn và chị không còn tình cảm thương yêu anh H. Anh H không đồng ý ly hôn nhưng cũng không có giải pháp gì giải quyết mâu thuẫn, vợ chồng, anh thừa nhận vợ chồng không nói chuyện với nhau từ tháng 9 năm 2022 đến nay. Như vậy, tình trạng hôn nhân giữa Chị T và anh H trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ vào Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 cần chấp nhận cho Chị T được ly hôn với anh H.

Về con chung: HĐXX xét thấy Chị T và anh H có 03 con chung tên Nguyễn Anh H, sinh ngày: 25/5/2002; Nguyễn Bích Khả K, sinh ngày 25/11/2006; Nguyễn Bích Khả D, sinh ngày 25/11/2006. Trong đó, có cháu Hào đã thành niên, Chị T không yêu cầu Tòa án giải quyết nên HĐXX không xem xét giải quyết. Các cháu D, Kỳ chưa thành niên và có nguyện vọng được ở với Chị T, Chị T cũng có đề nghị được nuôi cả hai con chưa thành niên; trong quá trình làm việc tại Tòa án, anh H tôn trọng ý kiến của các cháu về việc cháu muốn ở với ai. Xét nguyện vọng của các cháu D, Kỳ cũng phù hợp với nguyện vọng của Chị T nên HĐXX giao cháu Nguyễn Bích Khả K, sinh ngày 25/11/206; Nguyễn Bích Khả D, sinh ngày 25/11/2006 cho Chị T trực tiếp nuôi dưỡng. Do Chị T không yêu cầu cấp dưỡng nên tạm thời anh H không phải nộp cho Chị T tiền cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Đương sự không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

Về nợ chung: Đương sự khai không có nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

Về án phí: Chị T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về việc ly hôn được quy định tại Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy Ban thường vụ Quốc hội.

Xét đề nghị nêu trên của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bom thì thấy phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 1 Điều 227; Điều 228; Điều 238; Điều 271; khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ khoản 1 Điều 56; Điều 58, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy Ban thường vụ Quốc hội;

Tuyên xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Nguyễn Thị Bích T. Chị Nguyễn Thị Bích T được ly hôn với anh Nguyễn Nhị H.

2. Về con chung: Giao cho chị Nguyễn Thị Bích T được trực tiếp nuôi dưỡng hai con chung chưa thành niên tên Nguyễn Bích Khả K, sinh ngày 25/11/2006 và Nguyễn Bích Khả D, sinh ngày 25/11/2006. Tạm thời, anh H không phải nộp cho Chị T tiền cấp dưỡng nuôi con.

Không ai được cản trở quyền đi lại thăm nom và chăm sóc con chung, vì lợi ích của con, khi điều kiện thay đổi, các đương sự có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết việc thay đổi người trực tiếp nuôi con và yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.

3. Về án phí: Chị Nguyễn Thị Bích T phải nộp 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm về việc ly hôn. Tiền này được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) chị Nguyễn Thị Bích T đã nộp theo biên lai thu số 002423, ngày 15/02/2023, tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Trảng Bom qua nộp án phí. Chị Nguyễn Thị Bích T đã nộp đủ án phí.

4. Các đương sự có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Cỡ chữ