vanban.org

Bản án 44/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà T T T T đối với ông N N T.

Về hôn nhân: Cho bà T T T T ly hôn với ông N N T. Về con chung: Bà T T T T được quyền nuôi con tên Nguyễn Ngọc Bảo Vy, sinh ngày 03/02/2013. Vy hiện đang sống chung với bà Thanh, ông Thanh không cấp dưỡng nuôi con. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Thanh - Thanh"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà T T T T đối với ông N N T.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
HUYỆN THẠNH HÓA
TỈNH LONG AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 44/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 31 - 8 - 2023
V/v tranh chấp “ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THẠNH HÓA

- Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Phùng Trường Thọ

- Các Hội thẩm nhân dân:

1/ Ông Nguyễn Văn Bé

2/ Ông Tạ Duy Bình

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Kim Thủy – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thạnh Hóa, tỉnh Long An.

Ngày 31 tháng 8 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thạnh Hóa, tỉnh Long An xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 116/2023/TLST - HNGĐ ngày 27 tháng 6 năm 2023 về tranh chấp “ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 60/2023/QĐXXST - HNGĐ ngày 01 tháng 8 năm 2023, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà T T T T, sinh năm 1982

Địa chỉ: Ấp Trà Cú, xã Thuận Bình, huyện Thạnh Hóa, tỉnh Long An.

2. Bị đơn: Ông N N T, sinh năm 1980

Địa chỉ: Ấp Trà Cú, xã Thuận Bình, huyện Thạnh Hóa, tỉnh Long An.

(Bà Thanh có mặt; ông Thanh vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Nguyên đơn bà T T T T trình bày yêu cầu khởi kiện: Bà Thanh và ông Thanh sống chung và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Thuận Bình, huyện Thạnh Hóa, tỉnh Long An vào năm 2000. Sau khi kết hôn, bà Thanh và ông Thanh thời gian đầu sống chung hạnh phúc nhưng từ năm 2020 phát sinh mâu thuẫn do ông Thanh và bà Thanh thường xuyên bất đồng về công việc cũng như nhiều lần ông Thanh đánh bà Thanh. Bà Thanh và ông Thanh không sống chung từ tháng 11 năm 2022 cho đến nay. Trong quá trình sống chung, bà Thanh và ông Thanh có 02 con chung tên Nguyễn Ngọc Ngoan, sinh ngày 18/01/2003 và Nguyễn Ngọc Bảo Vy, sinh ngày 03/02/2013, Vy hiện đang sống chung với bà Thanh. Nay bà Thanh nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn nên bà Thanh khởi kiện yêu cầu ly hôn với ông Thanh; về con chung, bà Thanh yêu cầu nuôi Nguyễn Ngọc Bảo Vy không yêu cầu ông Thanh cấp dưỡng. Riêng con Nguyễn Ngọc Ngoan đã trưởng thành, bà Thanh không yêu cầu Tòa án giải quyết; về tài sản chung, nợ chung, bà Thanh không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Tại bản tự khai ngày 26/7/2023, bị đơn ông N N T trình bày yêu cầu: Về thời gian sống chung, đăng ký kết hôn và con chung đúng như bà Thanh trình bày. Nay, bà Thanh yêu cầu ly hôn thì ông Thanh không đồng ý vì ông Thanh còn thương bà Thanh và muốn vợ chồng hàn gắn nhưng nếu Tòa án cho ly hôn thì ông Thanh yêu cầu nuôi Nguyễn Ngọc Bảo Vy và yêu cầu bà Thanh cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 1.000.000đ đến khi Vy đủ 18 tuổi. Riêng con Nguyễn Ngọc Ngoan đã trưởng thành, ông Thanh không yêu cầu Tòa án giải quyết; về tài sản chung, nợ chung, ông Thanh không yêu cầu Tòa án giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ, vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Tòa án nhận định:

Về thẩm quyền giải quyết: Bà T T T T và ông N N T có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Thuận Bình, huyện Thạnh Hóa, tỉnh Long An nên là quan hệ hôn nhân hợp pháp. Ông Thanh cư trú trên địa phận huyện Thạnh Hóa, bà Thanh khởi kiện yêu cầu ly hôn, đây là quan hệ pháp luật được quy định tại Luật Hôn nhân và gia đình, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Thạnh Hóa theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về việc giải quyết vắng mặt ông N N T: Ông Thanh vắng mặt không có lý do dù đã được triệu tập hợp lệ, căn cứ vào khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt ông Thanh.

Về quan hệ hôn nhân: Bà T T T T yêu cầu ly hôn với ông N N T, ông Thanh không đồng ý ly hôn với bà Thanh do ông Thanh còn thương bà Thanh và muốn hàn gắn với bà Thanh. Bà Thanh trình bày nguyên nhân mâu thuẫn vợ chồng là do ông Thanh và bà Thanh thường xuyên bất đồng về công việc cũng như nhiều lần ông Thanh đánh bà Thanh. Tại phiên tòa, ông Thanh vắng mặt cũng như không đưa ra được biện pháp hàn gắn vợ chồng nên lời trình bày của bà Thanh về tình trạng mâu thuẫn giữa bà Thanh và ông Thanh là có cơ sở chấp nhận theo quy định tại khoản 2 Điều 92 Bộ luật tố tụng dân sự. Bên cạnh đó, bà Thanh kiên quyết yêu cầu ly hôn với ông Thanh. Qua lời trình bày của các đương sự thể hiện tình trạng mâu thuẫn là trầm trọng, hai bên không quan tâm chăm sóc lẫn nhau, khả năng hàn gắn tình cảm vợ chồng đã không còn, mục đích hôn nhân chỉ đạt được khi trong cuộc sống chung cả hai cùng quan tâm đến nhau và cả hai đương sự phải còn tình cảm với nhau nhưng bà Thanh đã hết tình cảm với ông Thanh. Do đó, Hội đồng xét xử có cơ sở khẳng định tình cảm vợ chồng giữa bà Thanh và ông Thanh không còn, tình trạng trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được nên căn cứ khoản 1 Điều 51 và khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Thanh đối với ông Thanh. Riêng Nguyễn Ngọc Ngoan đã trưởng thành và có cuộc sống tự lập, các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Tòa án không xem xét giải quyết.

Về con chung: Bà Thanh và ông Thanh cùng yêu cầu nuôi con Nguyễn Ngọc Bảo Vy. Nhận thấy, Vy là bé gái hiện đang sống chung với bà Thanh và có bản tự khai ngày 26/7/2023 là muốn sống chung với bà Thanh. Bên cạnh đó, bà Thanh không yêu cầu ông Thanh cấp dưỡng nuôi con, trong khi ông Thanh yêu cầu bà Thanh cấp dưỡng nuôi Vy mỗi tháng 1.000.000đ đến khi Vy đủ 18 tuổi, chứng tỏ ông Thanh không đủ khả năng về kinh tế nếu được nuôi con nên cần giao Vy cho bà Thanh tiếp tục nuôi dưỡng là phù hợp với pháp luật.

Về tài sản chung, nợ chung: Bà T T T T và ông N N T không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Tòa án không xem xét giải quyết.

Về án phí: Căn cứ theo quy định tại Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, bà T T T T phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm sung vào công quỹ nhà nước.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng các Điều 28, 35, 39, 147 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Áp dụng các Điều 51, 56, 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình; Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14.

Tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà T T T T đối với ông N N T.

Về hôn nhân: Cho bà T T T T ly hôn với ông N N T.

Về con chung: Bà T T T T được quyền nuôi con tên Nguyễn Ngọc Bảo Vy, sinh ngày 03/02/2013. Vy hiện đang sống chung với bà Thanh, ông Thanh không cấp dưỡng nuôi con.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của một hoặc cả hai bên, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc mức cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, nợ chung: Tòa án không xem xét giải quyết trong vụ án này do các đương sự không yêu cầu.

Về án phí: Bà T T T T phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm sung vào công quỹ Nhà nước, chuyển số tiền 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí bà Thanh đã nộp theo biên lai số 0009201 ngày 27 tháng 6 năm 2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thạnh Hóa sang thi hành án phí.

Án xử sơ thẩm công khai, nguyên đơn có mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ nhận được bản án hoặc kể từ ngày Tòa án niêm yết bản án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.

Cỡ chữ