- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn, tranh chấp nuôi con"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị Thu L đối với ông Huỳnh Phước L1 về việc "Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÒA VANG TP ĐÀ NẴNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 44/2023/HNGĐ-ST Ngày 23 tháng 9 năm 2023 “V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con” | Ngày 24 tháng 6 năm 2020 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÒA VANG - TP. ĐÀ NẴNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Huỳnh Thị Thu Thương
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Cao Văn Truyện
Ông Tán Nghị
- Thư ký phiên toà: Ông Bùi Duy Đức – là Thư ký Toà án nhân dân huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng tham gia phiên tòa: Ông Trương Công Hòa - Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 9 năm 2023, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 88/2023/TLST - HNGĐ ngày 21 tháng 6 năm 2023 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 29/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 22 tháng 8 năm 2023, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Trần Thị Thu L, sinh năm 1994; Địa chỉ: Khu phố T, thành phố P – C, tỉnh N. Có mặt.
Bị đơn: Ông Huỳnh Phước L1, sinh năm 1987; Địa chỉ: Thôn L, xã H, huyện H, thành phố Đ. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện đề ngày 06/6/2023 và quá trình tham gia tố tụng tại Tòa án, nguyên đơn bà Trần Thị Thu L trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Bà và ông Huỳnh Phước L1 kết hôn năm 2012, hôn nhân tự nguyện. Có đăng ký kết hôn tại UBND xã H, huyện H, thành phố Đ. Sau khi kết hôn vợ chồng sống tại Thôn L, xã H, huyện H, thành phố Đ. Trong quá trình chung sống thời gian đầu vợ chồng hạnh phúc, sau đó vợ chồng bà thường xuyên cãi nhau về vấn đề kinh tế tiền bạc, giữa bà và mẹ chồng cũng có lời qua tiếng lại với nhau, ông L1 nhậu say về đánh bà trong lúc bà đang mang thai, mâu thuẫn kéo dài ngày càng trầm trọng hơn. Đến cuối năm 2012 bà không thể tiếp tục chung sống với ông L1 và mẹ ông L1 được nữa, bà đã bỏ về nhà mẹ ruột sinh sống đến nay, giữa bà và ông L1 không ai quan tâm đến đời sống của nhau nữa. Nay bà yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông Huỳnh Phước L1.
Về quan hệ con chung: Bà L và ông Huỳnh Phước L1 có 01 con chung tên là Huỳnh Thị Như Y, sinh ngày 17/10/2013. Ly hôn, bà L yêu cầu Tòa án giao cho bà trực tiếp nuôi dưỡng, không yêu cầu ông L1 cấp dưỡng nuôi con.
Về quan hệ tài sản chung, nợ chung: Bà L xác định không có.
* Quá trình tham gia tố tụng tại Tòa án, bị đơn ông Huỳnh Phước L1 trình bày:
Ông thống với lời trình bày của bà Trần Thị Thu L về thời gian, địa điểm kết hôn. Trong quá trình chung sống vợ chồng có xảy ra mẫu thuẫn, nguyên nhân do chung sống cùng với mẹ ruột của ông nên cũng không tránh khỏi những mâu thuẫn giữa mẹ chồng và con dâu, ông và bà L có cãi nhau nhưng không đánh bà L lần nào. Đến cuối năm 2012, bà L bỏ về nhà mẹ ruột sống, ông cũng có liên lạc và khuyên bà L về, vợ chồng hòa giải chung sống cùng nhau nuôi dạy con nhưng bà L không đồng ý. Ông cho rằng trong thời gian vợ chồng sống ly thân, bà L có qua lại người khác và đã có con. Nay bà L yêu cầu ly hôn ông đồng ý.
Về con chung: Ông và bà Trần Thị Thu L có 01 con chung tên là Huỳnh Thị Như Y, sinh ngày 17/10/2013. Ông đề nghị Tòa án giao con cho ông trực tiếp nuôi dưỡng, không yêu cầu bà L cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung, nợ chung: Ông không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Tài liệu, chứng cứ của vụ án gồm: 01 bản sao Trích lục kết hôn; 01 bản sao giấy khai sinh của con; 01 bản sao CCCD của bà L và ông L1, 01 Đơn xin xác nhận cuả Ban nhân dân thôn L; Bản tự khai của nguyên đơn, bị đơn; Bản tự khai của con chung; Biên bản xác minh tại địa phương.
* Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hòa Vang phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử; việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự, kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án: Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử, các đương sự đã chấp hành đúng những quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung vụ án, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hòa Vang đề nghị HĐXX áp dụng các Điều 56, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình chấp nhận đơn khởi kiện của bà Trần Thị Thu L; Xử cho bà Trần Thị Thu L được ly hôn ông Huỳnh Phước L1, giao con Huỳnh Thị Như Y, sinh ngày 17/10/2013 cho bà L trực tiếp nuôi dưỡng, ông L1 không phải cấp dưỡng nuôi con. Án phí dân sự sơ thẩm bà L phải chịu theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, HĐXX nhận định như sau:
Về áp dụng pháp luật tố tụng, yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và địa chỉ nơi cư trú của bị đơn thuộc thẩm quyền thụ lý, giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng. Bị đơn ông Huỳnh Phước L1 đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ 2 nhưng vắng mặt không có lý do, HĐXX căn cứ khoản 2 Điều 227 BLTTDS xét xử vụ án vắng mặt bị đơn.
Bà Trần Thị Thu L và ông Huỳnh Phước L1 xây dựng gia đình với nhau có đăng ký kết hôn vào năm 2012 tại UBND xã H, huyện H, thành phố Đ. Hôn nhân hoàn toàn tự nguyện. Đây là cuộc hôn nhân hội đủ các điều kiện do Luật hôn nhân và gia đình quy định nên được pháp luật công nhận và bảo vệ. Quá trình giải quyết vụ án, bà L cho rằng trong thời gian chung sống vợ chồng thường xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân là do tính tình, quan điểm sống không hợp nên thường cãi nhau về vấn đề kinh tế, tiền bạc. Giữa bà và mẹ chồng cũng có lời qua tiếng lại với nhau, bà nhiều lần bị chồng đánh trong lúc mang thai, mâu thuẫn không hòa giải được và yêu cầu được ly hôn. Theo ông L1 thì vợ chồng xảy ra mâu thuẫn nhưng ông chưa đánh bà L lần nào, ông xác định vợ chồng đã sống ly thân từ năm 2012 đến nay, vì vậy ông đồng ý ly hôn theo yêu cầu của bà L. Qua xác minh tại địa phương thể hiện vợ chồng bà L và ông L1 mâu thuẫn từ lâu, vợ chồng thường xuyên cãi nhau, địa phương không nắm rõ nguyên nhân mâu thuẫn, hiện tại thì bà L và ông L1 không còn sống chung với nhau nữa. Xét thấy, mâu thuẫn vợ chồng giữa bà L và ông L1 đã trầm trọng không hòa giải được, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, do vậy HĐXX căn cứ vào Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà L và xử cho bà L được ly hôn ông Huỳnh Phước L1.
Về con chung: Bà L và ông L1 xác định vợ chồng có 01 con chung tên là Huỳnh Thị Như Y, sinh ngày 17/10/2013. Xét thấy con hiện tại đang sống cùng với bà L, đã trên 7 tuổi có nguyện vọng được ở với mẹ nên HĐXX giao con Huỳnh Thị Như Y cho bà L trực tiếp nuôi dưỡng, ông Huỳnh Phước L1 không phải cấp dưỡng nuôi con. Các bên có các quyền và nghĩa vụ đối với con chung theo quy định của pháp luật.
Về tài sản chung, nợ chung: Bà L và ông L1 xác định không có nên HĐXX không xem xét giải quyết.
Án phí dân sự sơ thẩm đối với yêu cầu ly hôn bà L phải chịu là 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng).
Xét thấy đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hòa Vang đối với việc giải quyết vụ án phù hợp với quy định của pháp luật nên HĐXX chấp nhận.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 56, 81, 82, 83 của Luật hôn nhân và gia đình; Điều 147; khoản 2, Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị Thu L đối với ông Huỳnh Phước L1 về việc "Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”.
Xử:
Về quan hệ hôn nhân: Bà Trần Thị Thu L được ly hôn ông Huỳnh Phước L1.
Về con chung: Giao con Huỳnh Thị Như Y, sinh ngày 17/10/2013 cho bà Trần Thị Thu L trực tiếp nuôi dưỡng, ông Huỳnh Phước L1 không cấp dưỡng nuôi con.
Các bên đương sự có các quyền và nghĩa vụ đối với con chung theo quy định của pháp luật.
Án phí Dân sự sơ thẩm đối với yêu cầu ly hôn là 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) bà Trần Thị Thu L phải chịu nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) bà L đã nộp tại biên lai thu số 0000350 ngày 21/6/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng. Bà L đã nộp đủ án phí.
Án xử công khai, báo cho nguyên đơn biết có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm, ngày 23/9/2023. Riêng bị đơn vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - Đương sự; - VKSND h. Hoà Vang; - Chi cục THADS h. Hoà Vang; - UBND xã H; - Lưu hồ sơ. | THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ (đã ký) Huỳnh Thị Thu Thương Huỳnh Thị Thu Thương |