vanban.org

Bản án 44/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Cho chị Vàng Thị S ly hôn anh Thào A Tủa.

Về con chung: Xử giao cháu Thào Trung Kiên, sinh ngày 17/02/2020, cho anh Thào A Tủa trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi cháu trưởng thành đủ 18 tuổi. Chị Vàng Thị S không phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung. Sau khi ly hôn, chị Vàng Thị S có quyền, nghĩa vụ thăm nom con c…

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Vàng Thị Say - Thào A Tủa"
  • Tòa quyết gì? Cho chị Vàng Thị S ly hôn anh Thào A Tủa.
  • Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật tố tụng Dân sự và Nghị; Điều 147 Bộ luật tố tụng Dân sự và Nghị; Điều 227 Bộ luật tố tụng Dân sự và Nghị

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN BẢO THẮNG
TỈNH LÀO CAI
Bản án số: 44/2023/HNGĐ-ST
Ngày 14 - 9 - 2023

V/v Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẢO THẮNG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lìn Thị Lài.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Trần Thị Huệ.

2. Ông Phạm Tuấn Thịnh.

Thư ký phiên toà: Bà hà Thị Thanh Tuyền - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bảo Thắng, tỉnh Lào Cai.

Đại diện viện kiểm sát nhân dân huyện Bảo Thắng tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thanh Diệp - Kiểm sát viên.

Ngày 14 tháng 9 năm 2023 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Bảo Thắng, tỉnh Lào Cai xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 104/2023/TLST-HNGĐ ngày 20 tháng 6 năm 2023 về “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 70/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 23 tháng 8 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 65/2023/QĐST - HNGĐ ngày 08 tháng 9 năm 2023 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Vàng Thị S - Sinh năm 2000.

Địa chỉ: Thôn Làng Cung 3, xã phong Niên, huyện Bảo Thắng, Lào Cai - (Vắng mặt có đơn xin xét xử vắng mặt).

2. Bị đơn: Anh Thào A Tủa - Sinh năm 1996.

Địa chỉ: Thôn Làng Cung 3, xã Phong Niên, huyện Bảo Thắng, Lào Cai - (Vắng mặt lần thứ hai không có lý do).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 08/6/2023 và bản tự khai ngày 20/6/2023, chị Vàng Thị S trình bầy: Chị và anh Thào A Tủa kết hôn trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn ngày 10/12/2019, tại UBND xã Phong Niên, huyện Bảo Thắng, tỉnh Lào Cai. Sau khi kết hôn vợ chồng sống hạnh phúc được một năm thì xẩy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do tính tình vợ chồng không hợp, bất đồng quan điểm trong cuộc sống, xuất phát từ đó vợ chồng xẩy ra xô sát cãi nhau, nhiều khi anh Tủa còn đánh chị, mâu thuẫn của vợ chồng đã được gia đình khuyên bảo nhiều lần nhưng mâu thuẫn của vợ chồng anh không khắc phục được mà mâu thuẫn ngày càng trầm trọng hơn. Thực tế vợ chồng chị đã sống ly thân không ai còn quan tâm đến nhau. Nay xét thấy tình cảm vợ chồng không còn nên chị đề nghị Tòa án giải quyết cho anh được ly hôn với Thào A Tủa.

Về con chung: Quá trình chung sống chúng vợ chồng chị có một con chung là cháu Thào Trung Kiên, sinh ngày 17/02/2020, hiện nay cháu khỏe mạnh phát triển bình thường và đang ở cùng anh Tủa, khi ly hôn chị đề nghị Tòa án giải quyết cho anh Tủa trực tiếp nuôi cháu Kiên, chị không cấp dưỡng tiền nuôi con.

Về tài sản chung: Vợ chồng chị không có tài sản chung, khi ly hôn chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về công nợ chung: Vợ chồng chị không vay nợ ai và cũng không cho ai nợ nần gì nên chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Đối với anh Thào A Tủa trong quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho anh Tủa, nhưng anh Tủa đều vắng mặt và cũng không có văn bản trả lời ý kiến với Tòa án.

Đối với vụ án này Toà án không hòa giải được về quan hệ hôn nhân và nuôi dưỡng, chăm sóc con chung vì vắng mặt bị đơn.

Tại phiên tòa vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bảo Thắng đã xác định: Quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý vụ án đến nay, Thẩm phán và Hội đồng xét xử đều tuân theo trình tự pháp luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn chấp hành tốt pháp luật, bị đơn không chấp hành pháp luật.

Đề nghị HĐXX áp dụng Khoản 1 Điều 56, 57; Điều 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Điểm b Khoản 2 Điều 227, Khoản 3 Điều 228, Điều 238, Khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng Dân sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Chấp nhận đơn khởi kiện của chị Vàng Thị S.

Xử cho chị Vàng Thị S ly hôn anh Thào A Tủa; Xử giao cháu Thào Trung Kiên, cho anh Thào A Tủa trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi cháu trưởng thành đủ 18 tuổi. Chị Vàng Thị S không phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung. Tuyên nghĩa vụ chịu án phí dân sự sơ thẩm và quyền kháng cáo cho các đương sự theo đúng quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và thẩm tra tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: Chị Vàng Thị S khởi kiện xin ly hôn với anh Thào A Tủa đảm bảo điều kiện theo quy định của pháp luật, chị Say và anh Tủa đều có đăng ký hộ khẩu thường trú tại thôn Làng Cung 3, xã Phong Niên, huyện Bảo Thắng, tỉnh Lào Cai. Vì vậy đây là tranh chấp thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Bảo Thắng, tỉnh Lào Cai theo quy định tại Điều 28 và Điều 35 Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Về quan hệ hôn nhân: Chị Vàng Thị S và anh Thào A Tủa có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật, vì vậy đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống, vợ chồng phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân mâu thuẫn là do tính tình vợ chồng không hợp, bất đồng quan điểm trong cuộc sống, xuất phát từ đó vợ chồng xẩy ra xô sát cãi nhau, khi mâu thuẫn xảy ra vợ chồng anh đã được gia đình khuyên bảo nhiều lần nhưng mâu thuẫn của vợ chồng anh không khắc phục được. Thực tế vợ chồng anh chị đã sống ly thân. Mâu thuẫn của vợ chồng anh chị đã được địa phương xác nhận là đúng sự thật. Tại phiên toà hôm nay, chị Vàng Thị S có đơn xin xét xử vắng mặt, trong quá trình giải quyết vụ án cũng như đơn đề nghị xét xử vắng mặt chị Say vẫn giữ nguyên yêu cầu xin được ly hôn với anh Thào A Tủa.

Đối với anh Thào A Tủa vắng mặt tại phiên tòa, trong quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho anh Tủa nhưng anh Tủa đều vắng mặt và cũng không có văn bản trả lời ý kiến với Tòa án.

Xét thấy, việc chị Vàng Thị S xin ly hôn với anh Thào A Tủa là có căn cứ, phù hợp với quy định tại Khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.

[3] Về con chung: Chị Vàng Thị S và anh Thào A Tủa có một con chung là Thào Trung Kiên, sinh ngày 17/02/2020, hiện nay cháu đang ở cùng anh Tủa. Trong quá trình giải quyết vụ án cũng như đơn xin xét xử vắng mặt chị Say đề nghị Tòa án giải quyết cho anh Tủa trực tiếp nuôi dưỡng cháu Thào Trung Kiên, chị không cấp dưỡng tiền nuôi con. Chị Say cung cấp chứng cứ chị và anh Tủa làm tự do thu nhập tại địa phương khoảng 5.000.000 đồng/tháng được chính quyền địa phương xác nhận. Xét yêu cầu của chị Say đề nghị Tòa án giao cháu Thào Trung Kiên cho anh Tủa là có căn cứ, vì hiện tại cháu Kiên đang ở cùng anh Tủa nên HĐXX cần chấp nhận giao cháu Kiên cho anh Tủa trực tiếp nuôi dưỡng. Chị Say không phải cấp dưỡng tiền nuôi con.

[4] Về tài sản chung: Chị Say xác nhận vợ chồng anh không có tài sản chung, khi ly hôn anh không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về công nợ: Chị Say xác nhận vợ chồng anh không vay nợ ai và cũng không cho ai vay nợ gì, khi ly hôn anh không yêu cầu tòa án giải quyết, vì vậy Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điểm b Khoản 2 Điều 227, Khoản 1, Khoản 3 Điều 228, Điều 238; Khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng Dân sự; Khoản 1 Điều 56, Điều 57, Điều 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

1. Cho chị Vàng Thị S ly hôn anh Thào A Tủa.

2. Về con chung: Xử giao cháu Thào Trung Kiên, sinh ngày 17/02/2020, cho anh Thào A Tủa trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi cháu trưởng thành đủ 18 tuổi. Chị Vàng Thị S không phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung.

Sau khi ly hôn, chị Vàng Thị S có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung, mà không ai được cản trở.

3. Về án phí: Chị Vàng Thị S phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 300.000 đồng nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai số 0000839 ngày 20/6/2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Bảo Thắng, tỉnh Lào Cai; Chị Vàng Thị S đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.

Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Cỡ chữ