- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án dân sự — "Ngân hàng thương mại cổ phần Sài gòn thương tín"
- Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận đơn khởi kiện của Ngân hàng thương mại cổ phần S.
- Căn cứ chính? Điều 26 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 471 Bộ luật Dân sự; Điều 474 Bộ luật Dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT TỈNH ĐẮK LẮK | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 44/2023/DSST Ngày: 12/4/2023 “V/v: Tranh chấp hợp đồng thẻ tín dụng” |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT, TỈNH ĐẮK LẮK
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị My My
- Các Hội thẩm nhân dân : 1. Ông Hoàng Viết Thống
2. Bà Trần Thị Liên
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Đình Phan - Cán bộ Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Buôn Ma Thuột tham gia phiên tòa: Bà Đinh Thị Hiếu – Kiểm sát viên
Ngày 12 tháng 4 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 577/2022/TLST-DS ngày 10 tháng 11 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 40/2023/QĐXXST-DS ngày 24 tháng 02 năm 2023 về việc: “Tranh chấp hợp đồng thẻ tín dụng” giữa:
1. Nguyên đơn: Ngân hàng thương mại cổ phần S
Địa chỉ: Lầu X, số H, đườ ng N, Quận Y, thành phố H.
Người đại diện theo pháp luật: Bà Nguyễn Đức Thạch D – Tổng giám đốc Ngân hàng thương mại cổ phần S.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Phạm Đình V – Giám đốc Ngân hàng thương mại cổ phần S - Chi nhánh Đắk Lắk.
Địa chỉ: số Z, đườ ng L, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk.
Người được ủy quyền lại: Ông Nguyễn Quang T – Sinh năm: 1987
Địa chỉ: số Z, đườ ng L, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk. (Có đơn xin xét xử vắng mặt).
2. Bị đơn: Ông Nguyễn Tấn T – Sinh năm: 1988
Địa chỉ: Thôn N, xã H, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk – Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng TMCP S và lời khai của người được ủy quyền lại ông Nguyễn Quang T khai:
Vào ngày 04/03/2020, ông Nguyễn Tấn T có ký với Ngân hàng TMCP S (Gọi tắt là Ngân hàng). Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng số thẻ 970403 – 3512 với lãi suất thỏa thuận là 2.6%/tháng (Bao gồm giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và các phụ lục điều khoản, điều kiện phát hành, sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng – các tài liệu được gọi chung là hợp đồng).
Căn cứ theo thu nhập của ông Nguyễn Tấn T, Ngân hàng đã đồng ý cấp thẻ tín dụng với hạn mức sử dụng là 40.000.000 đồng với mục đích tiêu dùng cá nhân.
Sau khi được cấp thẻ tín dụng, ông Nguyễn Tấn T đã thực hiện các giao dịch nhiều lần với số tiền vốn gốc 45.036.142 đồng, số tiền lãi tạm tính đến ngày 18/9/2022 là: 24.765.381 đồng. Qua nhiều lần gọi điện thoại, gửi thông báo nhắc nợ nhưng ông Nguyễn Tấn T vẫn không có thiện chí trả nợ. Do ông Nguyễ n Tấ n T đã vi phạ m nghĩ a vụ thanh toá n (Điề u 2 của phụ lục điều khoản và điều kiện phát hành sử dụ ng thẻ tín dụng của Ngân hàng, sau khi quá hạ n Ngân hà ng đã chấ m dứ t quyề n sử dụng thẻ và dư nợ còn thiếu đã chuyển nợ quá hạn vi phạm điều 23 của phụ lục điề u khoả n và điề u kiệ n phá t hà nh sử dụ ng thẻ tí n dụ ng củ a Ngân hà ng ). Tạm tính đến ngày 18/09/2022, ông Nguyễ n Tấ n T còn nợ gố c 45.036.142 đồ ng, nợ lãi quá hạn: 24.765.381 đồ ng. Tổ ng cộ ng: 69.801.523 đồ ng.
Mặ c dù Ngân hà ng đã đôn đố c , nhắ c nhở ông Nguyễ n Tấ n T , yêu cầ u ông T có trách nhiệm thanh toán khoản nợ quá hạn cho Ngân hà ng, Ngân hà ng cũ ng đã tạ o điề u kiệ n về mặt thời gian để ông T trả nợ , tuy nhiên ông Nguyễ n Tấ n T vẫ n không thanh toá n khoả n nợ quá hạ n cho ngân hà ng.
Do đó , để bảo vệ quyền lợi hợp pháp cho ngân hàng , Ngân hà ng TMCP S đề nghị Tòa án giải quyết , buộ c bị đơn ông Nguyễ n Tấ n T phải t rả lại số tiền 69.801.523 đồ ng cùng với lã i phá t sinh từ ngà y 19/9/2022.
* Bị đơn ông Nguyễn Tấn T đã được Tòa án thực hiện đầy đủ các thủ tục tố tụng; Triệu tập, niêm yết giấy triệu tập tại nơi đăng ký hộ khẩu thường trú của ông Nguyễn Tấn T là Thôn N, xã H, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk. Nhưng ông Nguyễn Tấn T vẫn không đến Tòa án làm việc nên không thể tiến hành lấy lời khai, hòa giải, kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ được.
* Đạ i diệ n Việ n kiể m sá t phát biểu quan điểm : Về việ c tuân theo phá p luậ t tố tụ ng củ a Hộ i đồ ng xé t xử tại phiên tòa là đả m bả o đú ng theo quy đị nh củ a pháp luật.
Về ý kiến giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận đơn khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng thương mại cổ phần S. Tuyên chấp dứt hợp đồng thẻ tín dụng số 970403 – 3512 ngày 04 tháng 03 năm 2020. Buộc ông Nguyễn Tấn T phải trả cho Ngân hàng thương mại cổ phần S số tiền nợ là: 69.801.523 đồ ng (Trong đó tiền nợ gốc là 45.036.142 đồ ng và tiền nợ lãi 24.765.381 đồ ng, tạm tính đến ngày 18/9/2022).
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:
Về quan hệ pháp luật: Nguyên đơn yêu cầu Tòa án giải quyết là tranh chấp hợp đồng thẻ tín dụng thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột theo quy định tại khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; khoản 1 Điều 36 Bộ luật tố tụng dân sự.
Về thủ tục tố tụng: Bị đơn ông Nguyễn Tấn T đã được triệu tập hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt. Do vậy Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt bị đơn là phù hợp với Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung tranh chấp:
Nguyên đơn yêu cầu bị đơn ông Nguyễn Tấn T phải trả khoản nợ gốc
45.036.142 đồ ng, số tiền nợ lãi tạm tính đến ngày 18/9/2022 là 24.765.381 đồ ng đồ ng và trả nợ lãi phát sinh trên số tiền nợ gốc tính từ ngày 19/9/2022 cho đến ngày trả hết nợ vay theo mức lãi suất ghi trên Hợp đồng tín dụng nêu trên. Do ông Nguyễn Tấn T vi phạm hợp đồng nên các bên không thể tiếp tục duy trì hợp đồng nữa mà cần phải chấp dứt hợp đồng thẻ tín dụng 970403 – 3512 ngày 04/03/ 2020 và ông Nguyễn Tấn T phải có nghĩa vụ thanh toán khoản nợ gốc và nợ lãi cho Ngân hàng thương mại cổ phần S. Trong quá trình Tòa án giải quyết bị đơn ông Nguyễn Tấn T không đến Tòa làm việc và không có ý kiến về việc khởi kiện của nguyên đơn. Do bị đơn không tham gia tố tụng nên Nguyên đơn Ngân hàng thương mại cổ phần S yêu cầu Tòa án giám định chữ viết và chữ ký của bị đơn ông Nguyễn Tấn T. Qua chữ viết, chữ ký của bị đơn ông Nguyễn Tấn T thể hiện trong giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng đề ngày 02/3/2020, Điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng cá nhân của ngân hàng thương mại cổ phần S có hiệu lực từ ngày 29/11/2019 đã được giám định. Kết quả giám định số 77/KL-KTHS ngày 10/01/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự, Công an tỉnh Đăk Lăk kết luận chữ ký và chữ viết trong biên bản giao thông báo thụ lý, giấy triệu tập, thông báo phiên họp kiểm tra giao nộp tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải với giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng đề ngày 02/3/2020, Điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng cá nhân của Ngân hàng thương mại cổ phần S có hiệu lực từ ngày 29/11/2019 là do cùng một người (ông Nguyễn Tấn T) ký và viết ra. Căn cứ vào hợp đồng thẻ tín dụng số 970403 – 3512 ngày 04 tháng 03 năm 2020 thể hiện ông Nguyễn Tấn T đã ký kết với Ngân hàng thương mại cổ phần S - Chi nhánh Đắk Lắk. Ngân hàng đã cấp thẻ tín dụng cho ông T với hạn mức sử dụng là 40.000.000 đồng, mục đích tiêu dùng cá nhân. lãi suất thỏa thuận là 2.6%/tháng. Sau khi được cấp thẻ tín dụng, Ông Nguyễn Tấn T đã thực hiện các giao dịch, sau đó vi phạm nghĩa vụ thanh toán cho Ngân hàng chuyển qua số nợ gốc 45.036.142 đồng sang nợ quá hạn ngày 22/7/2021 và lãi quá hạn được tính 3,9%/ tháng tính từ ngày 23/7/2021. Tính đến ngày 18/9/2022, ông T còn nợ ngân hàng tổng số tiền 69.801.523 đồ ng (Trong đó nợ gố c: 45.036.142 đồ ng, Nợ lã i: 24.765.381 đồ ng).
Xét hợp đồng mở thẻ tín dụng được xác lập và thỏa thuận mức lãi suất trong hạn, quá hạn trên cơ sở tự nguyện của cả hai bên, phù hợp với quy định của pháp luật. Bị đơn không trả tiền gốc vay và lãi vay đúng thời hạn là vi phạm nghĩa vụ thanh toán. Như vậy đã có đủ cơ sở pháp lý xác định ông Nguyễn Tấn T đã vi phạm nghĩa vụ trả tiền theo hợp đồng thẻ tín dụng số 970403 – 3512 ngày 04 tháng 03 năm 2020 đã ký kết với Ngân hàng thương mại cổ phần S - Chi nhánh Đắk Lắk.
Hội đồng xét xử; thấy có căn cứ chấp nhận đơn khởi kiện của nguyên đơn, buộc ông Nguyễn Tấn T phải trả cho Ngân hàng thương mại cổ phần S, tổng số tiền còn nợ là 69.801.523 đồ ng. Trong đó số tiền nợ gốc là 45.036.142 đồ ng, nợ lãi 24.765.381 đồ ng, tiền lãi tạm tính đến ngày 18/9/2022 và tiền lãi phát sinh từ ngày 19 tháng 9 năm 2022 cho đến khi trả xong nợ theo hợp đồng thẻ tín dụng số 970403 – 3512 ngày 04/03/ 2020.
Về án phí: Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận nên ông Nguyễn Tấn T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Ngân hàng thương mại cổ phần S không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm và được nhận lại khoản tiền tạm ứng án phí đã nộp.
Về tiền chi phí giám định chữ viết và chữ ký:
Do bị đơn ông Nguyễn Tấn T vắng mặt không tham gia tố tụng nên Ngân hàng thương mại cổ phần S yêu cầu Tòa án trưng cầu giám định chữ ký, chữ viết của bị đơn ông Nguyễn Tấn T. Qua kết luận giám định chữ ký và chữ viết là do ông Nguyễn Tấn T viết, ký trong hợp đồng thẻ tín dụng nên ông Nguyễn Tấn T phải chịu tiền chi phí giám định chữ ký và chữ viết.
Ngân hàng thương mại cổ phần S được nhận lại tiền tạm ứng chi phí giám định chữ ký và chữ viết sau khi thu tiền của ông Nguyễn Tấn T.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
- Căn cứ vào: + Khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; khoản 1 Điều 36; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147; Điều 220; Điều 227; Điều 266; Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự
+ Điều 471, Điều 474 Bộ luật dân sự;
+ Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.
- Tuyên xử: Chấp nhận đơn khởi kiện của Ngân hàng thương mại cổ phần S.
Tuyên chấp dứt hợp đồng tín dụng thẻ số 970403 – 3512 ngày 04 tháng 03 năm 2020.
Buộc ông Nguyễn Tấn T phải trả cho Ngân hàng thương mại cổ phần S số tiền nợ là: 69.801.523 đồ ng (Trong đó tiền nợ gốc là 45.036.142 đồ ng và tiền nợ lãi 24.765.381 đồ ng, tiền lãi tạm tính đến ngày 18/9/2022). Ông Nguyễn Tấn T phải tiếp tục chịu lãi suất của khoản nợ gốc nêu trên theo lãi suất thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng số 970403 – 3512 ngày 04 tháng 03 năm 2020, kể từ ngày 19/9/2022 cho đến khi trả xong nợ gốc.
- Về án phí: Ông Nguyễn Tấn T phải chịu: 3.490.100 đồng án phí dân sự sơ thẩm (làm tròn)
Ngân hàng thương mại cổ phần S được nhận lại số tiền tạm ứng án phí là 1.745.000 đồng mà Ngân hàng đã nộp theo biên lai thu số AA/2021/0021827 ngày 02 tháng 11 năm 2022 tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố B, tỉnh Đắk Lắk.
Về tiền chi phí giám định chữ ký và chữ viết: Ông Nguyễn Tấn T phải nộp 5.100.000 đồng tiền chi phí giám định chữ ký và chữ viết
Ngân hàng thương mại cổ phần S được nhận lại 5.100.000 đồng tiền tạm ứng chi phí giám định chữ ký và chữ viết sau khi thu được tiền của ông Nguyễn Tấn T.
Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày tròn kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày niêm yết bản án hợp lệ
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự .
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh Đăk Lăk; - VKSND TP.BMT; - TAND tỉnh Đăk Lăk, - CCTHADSTP.B; - Các đương sự ; - Lưu: HS, VP . | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Nguyễn Thị My My |