vanban.org

Bản án 44/2022/HSST — Hình sự

TAND huyện Quỳ Châu, tỉnh Nghệ An Tuyên án 02/06/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Bị cáo được quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM TAND và VKSND tỉnh Nghệ An;

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lương Thế G - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Bị cáo được quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN QUỲ CHÂU
NGHỆ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 44/2022/HSST
Ngày: 02-6-2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲ CHÂU - TỈNH NGHỆ AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:

Ông Trần Hoài Nam.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Vi Văn Duẩn

2. Ông Lý Văn Huân

- Thư ký phiên tòa: Bà Vi Hải Yến - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Quỳ Châu, tỉnh Nghệ An.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳ Châu, tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa: Ông Lương Văn Hiếu - Kiểm sát viên

Ngày 02/6/2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Quỳ Châu, tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 42/2022/TLST-HS ngày 21 tháng 4 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 55/2022/QĐXXST-HS ngày 19 tháng 5 năm 2022 đối với bị cáo: Lương Thế G, tên gọi khác: Không; Sinh năm: 2001 tại huyện Qùy Châu, tỉnh Nghệ An. Nơi cư trú: Bản KB, xã CH, huyện Qùy Châu, tỉnh Nghệ An; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 12/12; Dân tộc: Thái; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Lương Ngọc S và bà Vi Thị Bích H; Vợ - con: Chưa có; Tiền án - Tiền sự: Chưa có; Bị tạm giữ từ ngày 19/01/2022 và tạm giam từ ngày 28/01/2022 cho đến nay; Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Do là người nghiện ma túy nên vào khoảng 18 giờ ngày 19/01/2022, Lương Thế G đi bộ từ nhà ra quốc lộ 48 và bắt xe khách đi lên xã Châu Tiến, huyện Qùy Châu để tìm mua ma túy về sử dụng. Khi đến khu vực bản Hoa Tiến, xã Châu Tiến thì G xuống xe và gặp một người đàn ông không quen biết. G đã mua của người đàn ông 01 gói ma túy với giá 300.000đ. Sau khi mua được ma túy thì G cầm trên tay rồi bắt xe khách đi về nhà. Khoảng 21 giờ cùng ngày, khi về đến thị trấn Tân Lạc thì G cầm gói ma túy đi đến đồi Keo thuộc khối 2, thị trấn Tân Lạc để sử dụng. Trên đường đi thì bị tổ công tác công an thị trấn Tân Lạc, huyện Qùy Châu kiểm tra hành chính, do lo sợ nên G đã thả gói ma túy từ tay trái xuống đường nhưng đã bị phát hiện. Tổ công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ gói ma túy và đưa G về làm việc.

Tại bản Kết luận giám định số 265/KL-PC09(Đ2-MT) ngày 25/01/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Nghệ An kết luận: “Mẫu chất rắn thu giữ của Lương Thế G gửi tới giám định là ma túy (Heroin), có khối lượng là 0,32 gam”.

Quá trình điều tra, cơ quan điều tra Công an huyện Quỳ Châu không xác định được nhân thân, lai lịch của người đàn ông bán ma túy cho Lương Thế G nên không có cơ sở để xử lý.

Cáo trạng số 47/CT-VKS-HS ngày 20/4/2022, Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳ Châu đã quyết định truy tố bị cáo Lương Thế G về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS.

Tại phiên tòa, đại diện VKS thực hành quyền công tố vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo về tội danh và điều luật như nội dung Cáo trạng đã nêu và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 BLHS. Xử phạt Lương Thế G từ 01 năm 03 tháng đến 01 năm 06 tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo, tịch thu tiêu hủy số ma túy còn lại cùng vỏ bao niêm phong ma túy và buộc bị cáo phải chịu án phí HSST.

Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung truy tố của Cáo trạng và không có ý kiến gì trong phần tranh luận. Bị cáo đề nghị Hội đồng xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng:

[1.1] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an huyện Quỳ Châu, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳ Châu, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến, khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện trong giai đoạn điều tra và truy tố đều hợp pháp.

[2] Về nội dung:

[2.1] Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như sau: Vào ngày 19/01/2022, tại khu vực bản Hoa Tiến, xã Châu Tiến, huyện Qùy Châu bị cáo đã gặp và mua được của một người đàn ông không quen biết 01 gói ma túy với giá 300.000đ. Trên đường về đến thị trấn Tân Lạc thì bị cáo đi tìm nơi sử dụng. Bị cáo đã bị tổ công tác công an thị trấn Tân Lạc, huyện Qùy Châu phát hiện và bắt quả tang.

Thấy rằng lời khai của bị cáo tại phiên tòa và trong quá trình điều tra là thống nhất với nhau, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ vụ án đã được xem xét, thẩm tra tại phiên tòa. Bị cáo đã có hành vi tàng trữ ma túy có khối lượng 0,32g với mục đích để sử dụng. Vì vậy, bị cáo đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS đúng như nội dung truy tố của Cáo trạng.

[2.2] Hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng. Bị cáo có đủ nhận thức để biết rằng các loại ma túy nói chung là những chất gây nghiện được Nhà nước thống nhất quản lý, nghiêm cấm hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Bị cáo là người nghiện ma túy nhưng bị cáo không thật sự có ý thức cai nghiện để từ bỏ ma túy mà còn tìm mua ma túy để sử dụng nhằm thỏa mãn cơn nghiện. Vì vậy, cần phải xử phạt nghiêm và lên cho bị cáo một mức hình phạt tương xứng nhằm răn đe, cải tạo giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung. Cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới có đủ điều kiện giáo dục bị cáo trở thành người lương thiện, có ích cho gia đình và xã hội.

Tuy nhiên, quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay bị cáo đã thành khẩn khai báo và ăn năn hối cải. Đó là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS để xem xét giảm nhẹ phần nào về hình phạt cho bị cáo khi lượng hình.

[2.3] Hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo điều kiện kinh tế khó khăn và không có tài sản. Do đó không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.

[2.4] Về xử lý vật chứng: Cơ quan điều tra Công an huyện Quỳ Châu đã thu giữ của bị cáo 0,32g Heroin, đã trích gửi giám định 0,1g. Còn lại 0,22g Heroin cùng vỏ bao niêm phong vật chứng, cần tịch thu tiêu hủy.

[3] Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí HSST theo quy định.

Vì các lẽ trên

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 BLHS. Xử phạt Lương Thế G 01 (Một) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 19/01/2022.

- Căn cứ điều 106 BLTTHS. Tịch thu tiêu hủy 0,22g Heroin cùng vỏ bao niêm phong vật chứng. (Có đặc điểm như mô tả trong Biên bản giao, nhận vật chứng được lập vào hồi 15 giờ ngày 20/4/2022 giữa Cơ quan điều tra và Chi cục thi hành án dân sự huyện Quỳ Châu).

- Căn cứ Điều 136 BLTTHS và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14. Buộc Lương Thế G phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí HSST.

- Bị cáo được quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ