- Tranh chấp gì? án hình sự — "Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Trần Công S phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGHĨA ĐÀN - NGHỆ AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số:44/2022/HSST Ngày:15/ 9 / 2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGHĨA ĐÀN, TỈNH NGHỆ AN
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lý Quang Tình
- Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Bá Thảo
Bà Lê Thị Thuý Hằng
Thư ký phiên tòa: Bà Hồ Thị Thủy, thư ký TAND huyê ̣n Nghia Đã
̀n.
Đại diện VKSND huyê ̣n Nghia Đã
̀n tham gia phiên tòa: Ông Hoàng Bá Thọ - Kiểm sát viên.
Trong ngày 15 tháng 9 năm 2022, tại hội trường Tòa án nhân dân huyện Nghĩa Đàn, xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 39/ 2022/ TLST-HS ngày 19 tháng 8 năm 2022 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 46/ 2022/ HSST- QĐXX ngày 31 tháng 8 năm 2022 đối với :
Bị cáo: Trần Công S; Sinh ngày 20 tháng 01 năm 1968; Giới tính : Nam
Nơi cư trú: Xó m B M, xã N L, huyện Nghĩa Đàn, tỉnh Nghệ An
Nghề nghiệp: Lao động tự do;
Trình độ học vấn: 7/10
Dân tộc: Kinh;
Quốc tịch: Việt Nam;
Con ông : Trần Đức T
Con bà : Nguyễn Thị L
Vợ : Trần Thị Lương T, có 3 con, lớn nhất sinh 1992, nhỏ nhất sinh 2001.
Tiền án, tiền sự: Không;
Bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 07/5/2022 cho đến nay có mặt tại phiên tòa.
Ngườ i có quyền lợi nghia vu ̣̃
liên quan: Bà Trần Thị Lương T, sinh 1970
Nơi cư trú: Xó m B M, xã N L, huyện Nghĩa Đàn, tỉnh Nghệ An
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung
vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng cuối tháng 4 năm 2022, Trần Công S đi lên khu vực khối D C, phường Q T, thị xã T H gặp một người đàn ông tự giới thiệu tên là H không biết rỏ lai lịch địa chỉ hỏi mua 500.000đ (Năm trăm nghìn đồng) ma túy loại hồng phiến. Người đàn ông tên H hỏi địa chỉ nhà S và thỏa thuận giao dịch để tiền và ma tuý ở chân cổng chào gần nhà S. S đi về nhà lấy 500.000 đồng ra để ở khu vực chân cổng chào, hai ngày sau S đến tìm thấy có 01 gói bọc ni lông màu đen bên trong có 12 (mười hai) viên ma túy cùng một ít vụn màu trắng và màu đỏ. S lấy một viên cùng phần vụn màu trắng sử dụng, số còn lại S dùng tờ tiền 5.000 đồng bọc bên ngoài gói ma túy rồi cất giấu trong tủ phòng ngủ nhà S để sử dụng dần.
Đến khoảng 22 giờ ngày 07/5/2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị
xã Thái Hòa tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Trần Công S phát hiện, thu giữ trong tủ quần áo phòng ngủ 01 gói bằng tờ tiền mệnh giá 5.000đ (Năm nghìn đồng), bên trong có bọc lớp ny lông màu đen bên trong có 10 viên nén màu hồng. Thu giữ phía dưới đáy tủ 01 viên nén màu hồng do S làm rơi trong quá trình cất dấu trước đó.
Tại bản kết luận giám định số 625/KL-PC09(Đ2-MT) ngày 16/5/2022 của Phòng KTHS Công an tỉnh Nghệ An kết luận: “02 (hai) mẫu viên nén màu hồng thu giữ của Trần Công S gửi tới giám định đều là ma túy Methamphetamine. Số ma tuý thu giữ của Trần Công S có khối lượng là 1,01g.
Cáo trạng số 43 ngày 19 tháng 8 năm 2022 của VKSND huyện Nghĩa Đàn đã truy tố bị cáo Trần Công S về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm c khoản 1 điều 249 BLHS.
Kiểm sát viên tham gia phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm đã truy tố, phân tích đánh giá tính chất vụ án, nhân thân, tình tiết giảm nhẹ của bị cáo và đề nghị hội đồng xét xử:
Áp dụng: Điểm c khoản 1 điều 249, điểm s khoản 1, khoản 2 điều 51 BLHS.
Xử phạt: Trần Công S từ 12 đến 15 tháng tù.
Về vật chứng vụ án: Căn cứ, điều 47 BLHS, khoản 2 điều 106 BLTTHS.
Tịch thu tiêu huỷ số ma tuý thu giữ của Trần Công S còn lại sau khi lấy mẫu đi giám định.
Bị cáo S phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Căn cứ vào các chứng cứ tài liệu được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết
quả tranh luận tại phiên toà, trên cơ sở xem xét đầy đủ toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo và người tham gia tố tụng khác, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Trong quá trình điều tra, truy tố, cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có khiếu nại hoặc ý kiến gì về hành vi, quyết định của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng.
. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa hôm nay phù hợp với lời khai của bị
cáo, kết quả trưng cầu giám định và các tài liệu có tại hồ sơ vụ án về thời gian, diễn biến nội dung sự việc. Có căn cứ kết luận: Vào khoảng cuối tháng 4 năm 2022, Trần Công S đã có hành vi tàng trữ 11 viên ma tuý Methamphetamine có khối lượng 1.01 gam được gói trong tờ bạc 5.000đ cất dấu trong tủ phòng ngủ nhà S.
Bị cáo Trần Công S nhận thức được Methamphetamine là chất ma túy Nhà nước nghiêm cấm mọi hành vi tàng trử, sử dụng trái phép nhưng vẫn cố tình thực hiện.
Hành vi nêu trên của bị cáo Trần Công S đã phạm tội:“Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm c khoản 1 điều 249 BLHS như cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố là đúng pháp luật.
Đối với người đàn ông tên H bán ma túy cho S nhưng S không biết rõ họ tên, tuổi địa chỉ nên không có căn cứ để điều tra xử lý.
. Vụ án nghiêm trọng, hành vi của bị cáo S đã xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma tuý, là nguyên nhân làm phát sinh một số tội phạm khác như trộm cắp, giết người cướp của, làm tan vỡ hạnh phúc gia đình nên cần xử lý nghiêm.
Tuy nhiên cũng cần xem xét cho bị cáo phạm tội không có tình tiết tăng nặng. Nhân thân từ trước đến nay chưa có tiền án tiên sự, sau khi bị bắt đã khai báo thành khẩn, tỏ rỏ sự ăn năn hối hận; bị cáo có bố mẹ được Nhà nước tặng Huân chương. Đây là tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Vì vậy, căn cứ tính chất vụ án, nhân thân, tình tiết giảm nhẹ, chỉ cần cách ly bị cáo ngoài xã hội một thời gian mức như Kiểm sát viên đã đề nghị tại phiên toà cũng đủ điều kiện cải tạo giáo dục bị cáo.
. Về vật chứng vụ án: Đối với tờ tiền mệnh giá 5.000 đồng (Năm nghìn
đồng) bị cáo dùng gói ma tuý nên tịch thu sung công quỹ Nhà nước;
Số lượng ma túy thu giữ của bị cáo S sau khi lấy mẫu đi giám định còn lại 0,66 gam ma túy (Methamphetamine) cùng các vỏ bao, bì niêm phong nên cần tịch thu tiêu hủy.
Số tiền 900.000đ (Chín trăm nghìn đồng) thu giữ trong túi quần của Trần Công S, quá trình điều tra xác định số tiền trên là tài sản hợp pháp của Trần Công S không liên quan đến hành vi phạm tội nên Cơ quan CSĐT Công an huyện Nghĩa Đàn đã trả lại cho Trần Công S là đúng pháp luật.
. Về án phí : Bị cáo S phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của
pháp luật.
Bởi các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Tuyên bố bị cáo Trần Công S phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
Căn cứ: Điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS.
Xử phạt: Trần Công S 15 (mười lăm) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ tạm giam ngày 07/5/2022.
Về vật chứng của vụ án: Căn cứ điều 47 BLHS, điều 106 BLTTHS
Tịch thu sung công quỹ Nhà nước 5.000 đ (Năm nghìn đồng) thu giữ của bị cáo S. Tịch thu tiêu huỷ 10 viên ma tuý Methamphetamine còn lại sau khi lấy mẫu đi giám định có khối lượng 0,66 gam cùng các vỏ bao, bì niêm phong.
(Tình trạng vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng giữa Cơ quan công an huyện nghĩa Đàn với Chi cục thi hành án dân sự huyện nghĩa Đàn ngày 17/ 8/ 2022).
Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ khoản 2 điều 136 BLTTHS, Nghị quyết 326/2016/ UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.
Buộc bị cáo Trần Công S phải nạp 200.000đ (hai trăm nghìn đồng).
Bị cáo, Người có quyền nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo lên Toà án
nhân dân tỉnh Nghệ An trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
| Nơi nhận: - Bị cáo - VKSNĐ, VKST - THAHS - CANĐ - Lưu VP | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lý Quang Tình |