- Tranh chấp gì? án hình sự — "Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| HUYỆN MƯỜNG TÈ TỈNH LAI CHÂU ——— Bản án số: 44/2022/HSST Ngày: 20/01/2022 NHÂN DANH NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MƯỜNG TÈ Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Đỗ Mạnh Trang Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Xuân Định; Bà Lý Thị The Mường tè, tỉnh Lai Châu. Nguyễn Thành Luân, kiểm sát viên. Lai Châu xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số:43/2021/HSST, ngày 10 tháng 12 năm 2021, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số:46/2022/QĐXXST – HS, ngày 06 tháng 01 năm 2022 đối với bị cáo: huyện Yên Lập, tỉnh Phú Thọ. Nơi thường trú: xóm Đồng Cạn 8, thị trấn Yên Lập, huyện Yên Lập, tỉnh Phú Thọ; Chỗ ở hiện nay: bản Nậm Củm, xã Mường Tè, huyện Mường Tè, tỉnh Lai Châu; Nghề nghiệp: Tự do; Đoàn, Đảng: không; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam. Con ông: Bùi Trung L - đã chết; Con bà: Nguyễn Thị T - đã chết; Bị cáo có vợ là Hoàng Thị Sinh - Sinh năm: 1989 ( đã ly hôn), Bị cáo có 01 con sinh năm 2017; Tiền án, tiền sự: không. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 04/06/2021 đến ngày 13/6/2021 được áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú - Có mặt tại phiên tòa. | Ngày 20 tháng 01 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mường Tè, tỉnh |
NỘI DUNG VỤ ÁN;
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 08 giờ 00 phút ngày 04/6/2021, Bùi Anh T điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, loại xe Sirius, màu sơn đen, xám, biển kiểm soát 19H1 -233.08, đi từ công trình thủy điện Nậm Củm 4, thuộc địa phận xã Mường Tè, huyện Mường Tè, tỉnh Lai Châu đi đến khu vực bản Pa Mu, xã Hua Bum, huyện Nậm Nhùn, tỉnh Lai Châu với mục đích đi tìm mua Heroine để sử dụng. Đến khoảng 11 giờ cùng ngày, T đi đến bản Pa Mu, tại đây T gặp một người đàn ông dân tộc Mông đang ngồi trước cửa một ngôi nhà bỏ hoang. Gặp người đàn ông này, qua trao đổi mua Heroine, T đã mua được của người đàn ông này 07 gói Heroine ( 05 gói được gói bằng mảnh ni lon màu xanh, 02 gói được gói bằng mảnh ni lon màu trắng) bên ngoài gói bằng túi ni lon màu trắng với số tiền 1.000.000 đồng. Mua được Heroine, T lấy 01 gói ra bẻ lấy một nửa đi vào trong bụi cây gần đó sử dụng ( hít), sử dụng xong, T gói số Heroine còn lại rồi cho vào cùng với 06 gói Heroine cất giấu vào trong túi quần đang mặc, điều khiển xe mô tô đi về. Đến khoảng 12 giờ 30 phút, khi T điều khiển xe mô tô đi đến bản Nà Hừ, xã Bum Nưa, huyện Mường Tè, tỉnh Lai Châu thì gặp tổ công tác Công an huyện Mường Tè đang làm nhiệm vụ yêu cầu dừng xe để kiểm tra. Qua kiểm tra, tổ công tác phát hiện bên túi quần bên trái của T có một túi ni lon màu trắng bên trong có 07 gói bột khô, vón cục, màu trắng, theo lời khai của T đây là Heroine của T, T mua về để sử dụng, tổ công tác đã tiền hành lập biên bản thu giữ vật chứng và 01 chiếc xe mô tô biển kiểm soát 19H1 -233.08.
Qua xác định khối lượng và giám định chất ma túy, tại kết luận giám định số 54, của người giám định theo vụ việc, đã xác định 07 gói chất bột khô, vón cục, màu trắng thu giữ của Bùi Anh T có tổng khối lượng là 2,06 gam. Tại bản Kết luận giám định số: 426/GĐ–KTHS, ngày 11/6/2021 của h ng k thuật hình sự Công an tỉnh Lai Châu kết luận 07 mẫu bột khô, vón cục, màu trắng thu giữ của Bùi Anh T gửi đến giám định đều là ma túy, loại Heroine.
Tại Cáo trạng số: 01/CT- VKS– MT, ngày 08 tháng 12 năm 2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Tè đã truy tố bị cáo Bùi Anh T về tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý" theo điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS.
Kiểm sát viên tham gia phiên tòa giữ nguyên quan điểm truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Bùi Anh T phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 38, Điều 50; điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS. Xử phạt bị cáo Bùi Anh T từ 02 năm 06 tháng tù đến 03 năm tù.
Về hình phạt bổ sung đề nghị Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo, vì bị cáo là người nghiện, kinh tế khó khăn, không có điều kiện thi hành.
Về vật chứng đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 BLHS, điểm a khoản 2 Điều 106 BLTTHS. Tịch thu tiêu hủy gồm: 07 mảnh ni lon ( trong đó 05 mảnh ni lon màu xanh, 02 mảnh ni lon màu trắng); 01 túi ni lon màu trắng. Tịch thu sung công qu Nhà nước chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, loại xe Sirius, màu sơn đen, xám, biển kiểm soát 19H1 -233.08.
Về án phí hình sự sơ thẩm, buộc bị cáo phải chịu án phí theo quy định pháp luật.
Tại phiên tòa bị cáo Bùi Anh T khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng đã truy tố, lời khai của bị cáo là thống nhất, phù hợp với các lời khai tại cơ quan Điều tra; Bị cáo nhất trí luận tội và đề nghị của kiểm sát viên, không có ý kiến tranh luận, không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN;
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan Điều tra Công an huyện Mường Tè, tỉnh Lai Châu, Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Tè, tỉnh Lai Châu và Điều tra viên, Kiểm sát viên được phân công điều tra, truy tố, trong quá trình thực hiện đã tuân thủ đúng theo quy định về thẩm quyền, trình tự, thủ tục của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên t a, bị cáo không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Hành vi, quyết định của các Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng trong vụ án đã thực hiện đều hợp pháp, đúng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.
[ 2 ] Về hành vi phạm tội của bị cáo thấy rằng: Vì muốn có Heroine để sử dụng vào khoảng 08 giờ ngày 04/6/2021, Bùi Anh T đã đến khu vực bản a Mu, xã Hua Bum, huyện Nậm Nhùn, tỉnh Lai Châu tìm mua Heroine để sử dụng, khi đến a Mu, Bùi Anh Tuấn đã gặp và mua được của một người đàn ông dân tộc Mông (T không biết tên) 07 gói Heroine với số tiền 1.000.000 đồng. Mua được Heroine, T đi về nhà, trên đường đi khi T đi đến khu vực bản Nà Hừ, xã Bum Nưa, huyện Mường Tè, tỉnh Lai Châu thì bị Công an huyện Mường Tè bắt quả tang, thu giữ của Bùi Anh T 07 gói Heroine có tổng khối lượng 2,06 gam.
Như vậy khẳng định, hành vi mua 2,06 gam Heroine nhằm mục đích tàng trữ để sử dụng của Bùi Anh T đã phạm vào tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Do vậy, Cáo trạng số: 01/CT - VKS - MT, ngày 08 tháng 12 năm 2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Tè truy tố đối với Bùi Anh T về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy”' theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[ 3 ] Về tính chất, mức độ thực hiện hành vi phạm tội của bị cáo, bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, bị cáo nhận thức rõ việc mua Heroine tàng trữ để sử dụng là vi phạm pháp luật, nhưng do muốn có Heroine để sử dụng, nên bị cáo vẫn cố ý thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp. Hành vi của bị cáo đã xâm phạm vào chính sách độc quyền về quản lý các chất ma tuý của Nhà nước, ảnh hưởng xấu đến an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội tại địa phương.
[ 4 ] Về nhân thân, các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo:
Về nhân thân, bị cáo Bùi Anh T có nơi cư trú rõ ràng, bị cáo là người nghiện chất ma túy, ngày 21/04/2010 Bùi Anh T bị T a án nhân dân Thành phố Việt Trì, tỉnh hú Thọ xử phạt 24 tháng tù về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy". Bùi Anh T đã thi hành xong ngày 06/10/2011, tính đến ngày thực hiện phạm tội ngày 04/6/2021, bị cáo đã được xóa án tích.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, bị cáo luôn thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, đây là tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS cần được xem xét áp dụng cho bị cáo.
[ 5 ] Về hình phạt bổ sung: Căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ và tại phiên tòa, xét thấy, bị cáo Bùi Anh T là người nghiện chất ma túy, có hoàn cảnh kinh tế khó khăn, không có điều kiện thi hành, Hội đồng xét xử miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Trong vụ án này, theo lời khai của Bùi Anh T, số Heroine T có được là do T mua của một người đàn ông dân tộc Mông, tại khu vực Bản a Mu, xã Hua Bum, huyện Nậm Nhùn, tỉnh Lai Châu, nhưng Tuấn không biết rõ lai lịch của người này, nên không có cơ sở để điều tra xử lý được đối với người này.
[ 6 ] Về vật chứng: Đối với những vật chứng thu giữ còn lại gồm: 07 mảnh ni lon ( Trong đó 05 mảnh ni lon màu xanh, 02 mảnh ni lon màu trắng); 01 túi ni lon màu trắng, đây là công cụ phạm tội, cần phải tịch thu tiêu hủy. Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, loại xe Sirius, màu sơn đen, xám, biển kiểm soát 19H1 -233.08, đây là phương tiện của bị cáo, thuộc quyền quản lý của bị cáo, bị cáo dùng làm phương tiện đi tìm mua ma túy để sử dụng, cần phải tịch thu sung công qu Nhà nước.
[ 7 ] Về án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 BLTTHS và Nghị quyết số: 326/2016/ UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa XIV quy định về án phí, lệ phí. Buộc bị cáo Bùi Anh T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sở thẩm.
Từ những phân tích, đánh giá nêu trên, Hội đồng xét xử xét thấy ý kiến đề nghị của Kiểm sát viên là có căn cứ, Hội đồng xét xử cần phải chấp nhận.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH;
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 50; điểm a khoản 1 Điều 47 BLHS và điểm a khoản 2 Điều 106; khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136; Điều 331; Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số: 326/2016/ UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa XIV quy định về án phí, lệ phí.
1. Tuyên bố bị cáo Bùi Anh T phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy". Xử phạt bị cáo Bùi Anh T 02 (hai) năm 06 tháng tù, thời hạn tù được tính từ ngày bị cáo vào trại thi hành, được khấu trừ 09 ngày tạm giữ từ 13 giờ 40 phút ngày 04/6/2021 đến 13 giờ 40 phút ngày 13/6/2021.
2. Về xử lý vật chứng:
- Tịch thu tiêu hủy gồm: 07 mảnh ni lon ( Trong đó 05 mảnh ni lon màu xanh, 02 mảnh ni lon màu trắng); 01 túi ni lon màu trắng.
- Tịch thu sung công qu Nhà nước 01chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, loại xe Sirius, màu sơn đen, xám, biển kiểm soát 19H1 -233.08. Số khung: RLCUE3220KY125345. Số máy: E3X9E613195 ( xe đã qua sử dụng), kèm theo 01 chìa khóa xe.
Toàn bộ vật chứng trên hiện đang được thu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mường tè, tỉnh Lai Châu, theo biên bản giao nhận vật chứng số 40, ngày 09/12/2021 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mường Tè, tỉnh Lai Châu.
3. Về án phí: Buộc bị cáo Bùi Anh T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Án xử công khai, có mặt bị cáo, bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày từ ngày tuyên án lên Toà án nhân dân tỉnh Lai Châu để xem xét theo thủ tục phúc thẩm./
| Nơi nhận: - Toà án nhân dân tỉnh; - VKSND tỉnh; - Công an huyện; - Thi hành án hình sự; - VKSND huyện; - Thi hành án dân sự huyện; - Sở Tư pháp; - Bị cáo; - Lưu hồ sơ vụ án. | T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà (Đã ký) Đỗ Mạnh Trang |