- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lương Tuấn T - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Về trách nhiệm hình sự, hình phạt:
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN C TỈNH TUYÊN QUANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 44/2022/HSST Ngày 12/7/2022 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN C - TỈNH TUYÊN QUANG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lê Tuấn Tú
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Xuân Tuyến
2. Bà Triệu Thị Yên
- Thư ký phiên tòa: Ông Dương Văn Tiến, Thư ký Tòa án nhân dân huyện C.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện C tham gia phiên tòa: Ông Hoàng Duy Luận, Kiểm sát viên VKSND huyện C.
Ngày 12 tháng 7 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện C xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 36/2022/TLST - HS ngày 02 tháng 6 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 44/2022/QĐXXST - HS ngày 30/6/2022, đối với:
* Bị cáo: Lƣơng Tuấn T, sinh ngày 02/3/1988;
Nơi ĐKHKTT và chỗ ở hiện nay: tổ V, thị trấn VL, huyện C, tỉnh Tuyên Quang; Dân tộc: Tày; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 8/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Bố đẻ: Lương Trung Dũng (đã chết); Mẹ đẻ: Khương Thị Bình, sinh năm 1949; Vợ: Ma Thị Phương Hồng, sinh năm 1990 (đã ly hôn); Con: Có 01 con, sinh năm 2013; Anh, em ruột: Có 04 anh em, bị cáo là con thứ tư;
- Tiền án: Bản án số 33/2011/HSST ngày 23/6/2011 của Tòa án nhân dân huyện C xử phạt 12 tháng tù cho hưởng án treo, thử thách 24 tháng (chưa chấp hành xong khoản tiền phạt).
- Tiền sự: Quyết định số 03/QĐ-UBND ngày 04/02/2020 của Ủy ban nhân dân thị trấn VL, huyện C Quyết định áp dụng biện pháp giáo dục tại thị trấn (Chấp hành xong ngày 04/5/2020);
+ Quyết định số 159/QĐ-XPVPHC ngày 12/6/2018 của Công an huyện C xử phạt vi phạm hành chính 3.500.000 đồng về hành vi Cố ý làm hư hỏng tài sản của người khác (Chưa chấp hành);
+ Quyết định số 160/QĐ-XPVPHC ngày 18/6/2018 của Công an huyện C xử phạt vi phạm hành chính 2.500.000 đồng về hành vi Xâm hại sức khỏe của người khác (chưa chấp hành);
+ Quyết định số 45/QĐ-XPHC ngày 22/8/2019 của Công an huyện C xử phạt vi phạm hành chính 3.000.000 đồng về hành vi Xâm hại sức khỏe của người khác (chưa chấp hành);
- Nhân thân: Năm 2005, bị Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện C ra Quyết định đưa vào trường giáo dưỡng tại quyết định số 320/QĐ-UBND.
+ Quyết định số 131/QĐ-XPVPHC ngày 29/4/2018 của Công an huyện C xử phạt vi phạm hành chính 750.000 đồng về hành vi Đánh nhau (nộp phạt ngày 02/5/2018);
+ Quyết định số 74/QĐ-XPHC, ngày 08/11/2019 của Công an huyện C xử phạt vi phạm hành chính 200.000 đồng về hành vi Gây mất trật tự khu dân cư (nộp phạt ngày 08/11/2019);
+ Ngày 03/8/2021, bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C khởi tố vụ án, bị can để điều tra về hành vi đánh bạc (chưa xét xử)
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 07/01/2022, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Tuyên Quang. (có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và kết quả diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 10 giờ, ngày 07/01/2022, Lương Tuấn T, sinh năm 1988, trú tại tổ V, thị trấn VL, huyện C, tỉnh Tuyên Quang đón xe ô tô buýt đến thành phố Tuyên Quang mục đích tìm mua chất ma túy để sử dụng. Khi đến khu vực Km 6, thuộc xã Trung Môn, huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang, Thìn xuống xe và đi bộ khoảng 100m thì gặp một người đàn ông không quen biết, Thìn hỏi mua được 01 gói nhỏ chất ma túy tổng hợp dạng đá (có đặc điểm bên ngoài là túi ni lông màu trắng, mép túi màu đỏ, bên trong có chứa tinh thể màu trắng là ma túy tổng hợp), với giá 1.500.000 đồng. Mua được chất ma túy Thìn cất vào túi áo ngực bên trái đang mặc rồi đón xe ô tô buýt đi quay về nhà. Khoảng 13 giờ 40 phút cùng ngày, khi Thìn về đến khu vực tổ Vĩnh Thịnh, thị trấn VL, huyện Chiêm Hóa, Thìn xuống xe đi bộ khoảng 200m thì bị tổ công tác Công an huyện C kiểm tra phát hiện 01 gói nhỏ chất ma túy có đặc điểm nêu trên. Tổ công tác đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và thu giữ toàn bộ tang vật.
Tại kết luận giám định số 126/GĐKTHS ngày 11/01/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Tuyên Quang kết luận: Số chất tinh thể màu trắng thu giữ của Lương Tuấn T là chất ma túy, loại Methamphetamine; khối lượng 1,348g (Một phẩy ba bốn tám gam).
Tại bản cáo trạng số 40/CT-VKSCH ngày 01/6/2022, Viện kiểm sát nhân dân huyện C truy tố Lương Tuấn T về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy", theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Kết thúc phần xét hỏi, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện C, tỉnh Tuyên Quang giữ quyền công tố giữ nguyên quyết định truy tố về tội danh, điều luật đã nêu trong cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:
- Về tội danh: Đề nghị tuyên bị cáo Lương Tuấn T phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".
- Về hình phạt: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; khoản 1 Điều 38; đoạn 1 điểm h khoản 1 điều 52; Điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Lương Tuấn T từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù. Hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam 07/01/2022.
- Do bị cáo phạm tội không có mục đích vụ lợi, bản thân và gia đình bị cáo không có tài sản có giá trị, nên không đề nghị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
- Về xử lý vật chứng đề nghị áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy đối với số ma tuý thu giữ còn lại sau khi giám định được niêm phong trong 01 phong bì còn nguyên vẹn, mặt sau các mép dán kín, có chữ ký xác nhận của Lương Tuấn T, thành phần tham gia và 05 (năm) hình dấu của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Tuyên Quang.
Ngoài ra đề nghị HĐXX buộc bị cáo phải chịu án phí và tuyên quyền kháng cáo bản án của bị cáo theo quy định của pháp luật.
Kết thúc phần tranh luận, bị cáo nói lời sau cùng, bị cáo nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật, bị cáo tỏ ra ăn năn, hối cải về hành vi phạm tội của mình, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét xử cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất, để bị cáo sớm trở về đoàn tụ cùng gia đình và xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, lời khai của bị cáo có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Xét về hành vi, quyết định tố tụng: Điều tra viên và Cơ quan điều tra Công an huyện; Kiểm sát viên và Viện kiểm sát nhân dân huyện, trong quá trình bắt quả tang, khởi tố, điều tra, truy tố, thủ tục Tạm giữ, tạm giam đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về hành vi phạm tội của bị cáo:
Tại phiên tòa, bị cáo Lương Tuấn T khai nhận hành vi phạm tội của mình phù hợp nội dung kết luận điều tra và bản Cáo trạng đã nêu; phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, biên bản bắt người phạm tội quả tang, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở kết luận: Khoảng 13 giờ 40 phút, ngày 07/01/2022, tại tổ Vĩnh Thịnh, thị trấn VL, huyện Chiêm Hóa, Lương Tuấn T, sinh năm 1988, trú tại tổ V, thị trấn VL, huyện C, tỉnh Tuyên Quang đã có hành vi Tàng trữ trái phép 1,348 gam chất ma túy, loại Methamphetamine, mục đích để sử dụng; hành vi của bị cáo đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
Về tính chất, mức độ thực hiện hành vi phạm tội, nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo:
Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được việc tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện, do đó phải chịu trách nhiệm đối với hành vi phạm tội của mình. Hành vi phạm tội của bị cáo là hành vi nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến những quy định của Nhà nước về quản lý các chất ma túy, gây mất trật tự trị an tại địa phương và gây bất bình trong quần chúng nhân dân.
Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân xấu, nhiều lần bị xử phạt vi phạm hành chính về các hành vi Cố ý làm hư hỏng tài sản, xâm hại sức khoẻ của người khác, đánh nhau, Gây mất trật tự khu dân cư (đã bị xử lý tại các Quyết định số 159, 160, 45, 131, 74 của Công an huyện Chiêm Hoá), từng bị áp dụng biện pháp giáo dục tại thị trấn (tại Quyết định số 03 của UBND thị trấn VL), bị áp dụng đưa vào trường giáo dưỡng (tại Quyết định số 320 của Chủ tịch UBND huyện Chiêm Hoá); hiện đang bị khởi tố, truy tố về hành vi đánh bạc (chưa bị xét xử).
Về các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Ngày 23/6/2011 bị cáo bị Toà án nhân dân huyện Chiêm Hoá xử phạt 12 tháng tù cho hưởng án treo, thử thách 24 tháng về tội đánh bạc, chưa được xoá án tích do chưa chấp hành xong khoản tiền phạt, nay lại phạm tội mới với lỗi cố ý nên phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo đoạn 1 điểm h khoản 1 Điều 52 của BLHS (tái phạm).
Về các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo khai báo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ được quy định tại các điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự, bị cáo có mẹ đẻ là thanh niên xung phong nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Căn cứ vào tính nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và yêu cầu đấu tranh phòng chống tội phạm chung; nội dung buộc tội, đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa cho thấy bị cáo thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý, hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng, bị cáo có nhân thân xấu, nhiều tiền án, tiền sự, do đó cần phải áp dụng mức án tương xứng với mức độ thực hiện hành vi phạm tội, cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để răn đe, cải tạo, giáo dục bị cáo thể hiện tính nghiêm minh của pháp luật, đồng thời làm gương phòng ngừa tội phạm chung và áp dụng mức hình phạt theo đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát là phù hợp. Về hình phạt bổ sung: Do bị cáo phạm tội không có mục đích vụ lợi, bản thân và gia đình bị cáo không có tài sản có giá trị nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền.
Vật chứng liên quan đến vụ án: Cần tịch thu tiêu hủy đối với số ma tuý còn lại sau khi giám định được niêm phong trong 01 phong bì còn nguyên vẹn, mặt sau các mép dán kín, có chữ ký xác nhận của Lương Tuấn T, thành phần tham gia và 05 (năm) hình dấu của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Tuyên Quang.
Đối với người đàn ông bán ma tuý cho Lương Tuấn T quá trình điều tra, không xác định được tên tuổi, địa chỉ nên không có căn cứ xem xét xử lý.
- Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm và được quyền kháng cáo bản án theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về trách nhiệm hình sự, hình phạt:
- Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; khoản 1 Điều 38; đoạn 1 điểm h khoản 1 Điều 52; Điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 47 của Bộ luật hình sự; Các Điều 106, 135, 136, 331, 332, 333 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ Ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
- Tuyên bố bị cáo Lƣơng Tuấn T phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".
- Xử phạt: Bị cáo Lƣơng Tuấn T 02 (hai) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam (07/01/2022).
2. Về vật chứng: Tịch thu tiêu hủy đối với số Methaphetamine còn lại sau khi giám định được niêm phong trong 01 phong bì còn nguyên vẹn, mặt sau các mép dán kín, có chữ ký xác nhận của Lương Tuấn T, thành phần tham gia và 05 (năm) hình dấu của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Tuyên Quang.
Tình trạng vật chứng như biên bản giao, nhận vật chứng ngày 20/6/2022 giữa cơ quan điều tra công an huyện C và Chi cục Thi hành án dân sự huyện C.
3. Về án phí: Bị cáo Lương Tuấn T phải chịu 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng: Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (12/7/2022).
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Tuyên Quang; - VKSND tỉnh TQ; - VKSND huyện CH; - Cơ quan ĐT CA huyện CH; - Cơ quan THAHS CA huyện CH; - Chi cục THADS huyện CH; - Phòng HSNV, CA tỉnh TQ; - Trại tạm giam CA tỉnh TQ; - Bị cáo; - Lưu. | T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Tuấn Tú |