- Tranh chấp gì? án hình sự — "Phạm Thị C phạm tội đánh bạc - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Phạm Thị C phạm tội Đánh bạc.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ SÔNG CẦU TỈNH PHÚ YÊN ––––––––––––––– | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 44/2022/HS-ST Ngày: 27-9- 2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ SÔNG CẦU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Ngọc Tiên
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Tấn Thành và ông Nguyễn Ngọc Chẩn
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Thúy Loan – Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Sông Cầu, tỉnh Phú Yên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Sông Cầu, tỉnh Phú Yên tham gia phiên tòa: Ông Phan Quốc Trung - Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 9 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Sông Cầu, tỉnh Phú Yên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 28/2022/TLST-HS ngày 19 tháng 7 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 34/2022/QĐXXST-HS ngày 18 tháng 08 năm 2022, quyết định hoãn phiên tòa số 50/2022/QĐST-HS ngày 09 tháng 9 năm 2022 đối với bị cáo:
Phạm Thị C (tên gọi khác: Không), sinh năm 1966; nơi sinh và nơi cư trú: Thôn M, xã X, thị xã S, tỉnh Phú Yên; nghề nghiệp: Làm nông; trình độ văn hoá (học vấn): Không biết chữ; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; họ và tên cha: Phạm T1 (đã chết), họ và tên mẹ: Lê Thị T2, sinh năm 1934; có chồng Nguyễn Chiêu Đ, sinh năm 1962; con 03 người, lớn nhất sinh năm 1982, nhỏ nhất sinh năm 1986; tiền án: Không; tiền sự: Ngày 04/11/2021, bị Công an thị xã Sông Cầu, tỉnh Phú Yên xử phạt vi phạm hành chính số tiền 1.500.000 đồng về hành vi đánh bạc, nộp phạt vào ngày 11/11/2021. Bị cáo tại ngoại. Có mặt tại phiên tòa.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Bà Đỗ Thị A, sinh năm 1964; địa chỉ: Thôn M, xã X, thị xã S, tỉnh Phú Yên. Vắng mặt.
2. Ông Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1940; địa chỉ: Thôn C, xã X, thị xã S, tỉnh Phú Yên. Vắng mặt (Có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt).
3. Anh Lê Tiến L, sinh năm 1998; địa chỉ: Thôn C, xã X, thị xã S, tỉnh Phú Yên. Vắng mặt (Có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt).
4. Em Nguyễn Vĩnh K – sinh năm 2006; địa chỉ: Thôn C, xã X, thị xã S, tỉnh Phú Yên. Vắng mặt (Có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt).
Người đại diện hợp pháp: Ông Nguyễn Hoàng P(cha ruột) – sinh năm 1978; địa chỉ: Thôn C, xã X, thị xã S, tỉnh Phú Yên. Vắng mặt (Có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt).
5. Ông Nguyễn L, sinh năm 1937; địa chỉ: Thôn B, xã X2, thị xã S, tỉnh Phú Yên. Vắng mặt (Có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt).
6. Em Nguyễn Hữu Đ – sinh năm 2005; địa chỉ: Thôn B, xã X2, thị xã S, tỉnh Phú Yên. Vắng mặt.
Người đại diện hợp pháp: Bà Nguyễn Thị Diễm Th (mẹ ruột) – sinh năm 1982; địa chỉ: Thôn B, xã X2, thị xã S, tỉnh Phú Yên. Vắng mặt (Có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt).
7. Anh Hà Tuy H, sinh năm 1998; địa chỉ: Thôn B, xã X2, thị xã S, tỉnh Phú Yên. Vắng mặt.
8. Bà Trần Thị H, sinh năm 1979; địa chỉ: Thôn C, xã X, thị xã S, tỉnh Phú Yên. Vắng mặt (Có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt).
9. Ông Huỳnh Văn D, sinh năm 1971; địa chỉ: Thôn B, xã X2, thị xã S, tỉnh Phú Yên. Vắng mặt.
10. Em Huỳnh Nhật T – sinh năm 2007; địa chỉ: Thôn C, xã X, thị xã S, tỉnh Phú Yên. Vắng mặt (Có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt).
Người đại diện hợp pháp: Ông Huỳnh Thế Th (cha ruột), sinh năm 1980; địa chỉ: Thôn C, xã X, thị xã S, tỉnh Phú Yên. Vắng mặt (Có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt).
11. Anh Hà Quốc H, sinh năm 2000; địa chỉ: Thôn B, xã X2, thị xã S, tỉnh Phú Yên. Vắng mặt (Có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt).
12. Em Dương Phi H – sinh 2006; địa chỉ: Thôn B, xã X2, thị xã S, tỉnh Phú Yên. Vắng mặt.
Người đại diện hợp pháp: Cha ruột - ông Dương Văn T, sinh năm 1973; địa chỉ: Thôn B, xã X2, thị xã S, tỉnh Phú Yên. Vắng mặt (Có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt).
- Người làm chứng:
1. Ông Nguyễn T, sinh năm 1967; địa chỉ: Thôn B, xã X2, thị xã S, tỉnh Phú Yên. Vắng mặt.
2. Bà Đỗ Thị N, sinh năm 1952; địa chỉ: Thôn B, xã X2, thị xã S, tỉnh Phú Yên. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 16 giờ 20 phút ngày 15/02/2022, Công an thị xã Sông Cầu bắt quả tang Phạm Thị C (có 01 tiền sự về hành vi đánh bạc), Đỗ Thị A, Nguyễn Văn Đ, Lê Tiến L, Nguyễn Vĩnh K, Nguyễn L và Nguyễn Hữu Đ cùng tham gia đánh bạc trái phép ăn thua bằng tiền dưới hình thức xóc bầu cua - bờ biển. Thu giữ tại chiếu bạc số tiền 480.000 đồng, thu giữ trên người của những người tham gia đánh bạc số tiền 753.000 đồng, những người đánh bạc giao nộp số tiền 40.000 đồng dùng để đánh bạc, các dụng cụ phục vụ cho việc đánh bạc và các tang vật khác.
Quá trình điều tra xác định được như sau:
Phạm Thị C, Lê Tiến L, Trần Thị H, Hà Quốc H góp tổng số tiền là 950.000 đồng để làm cái xóc bầu cua - bờ biển và những người tham gia đặt cược gồm: Đỗ Thị A, Nguyễn Văn Đ, Nguyễn Vĩnh K, Nguyễn L, Nguyễn Hữu Đ, Hà Tuy H, Huỳnh Văn D, Huỳnh Nhật T, Dương Phi H và một số người khác chạy thoát không xác được nhân thân lai lịch, đã xác định được những người tham gia đánh bạc, số tiền đánh bạc và kết quả thắng thua của từng người cụ thể như sau:
Phạm Thị C dùng số tiền 513.000 đồng để tham gia đánh bạc, sau đó góp số tiền 250.000 đồng đưa cho Lê Tiến L giữ để làm cái, kết quả thua 20.000 đồng. Lê Tiến L dùng số tiền 300.000 đồng để tham gia đánh bạc và góp số tiền 250.000 đồng làm cái, kết quả thua 50.000 đồng. Trần Thị H góp số tiền 250.000 đồng, Hà Quốc H góp số tiền 200.000 đồng đưa cho Lê Tiến L giữ để làm cái. Đỗ Thị A dùng số tiền 300.000 đồng để đánh bạc, tham gia đặt cược nhiều ván, mỗi ván 10.000 đồng, kết quả thua 30.000 đồng. Nguyễn Văn Đ dùng số tiền 100.000 đồng để đánh bạc, tham gia đặt cược nhiều ván, kết quả không thắng không thua. Nguyễn Vĩnh K dùng số tiền 100.000 đồng để đánh bạc, tham gia đặt cược nhiều ván, mỗi ván từ 10.000 đồng đến 20.000 đồng, kết quả thua 70.000 đồng. Nguyễn L dùng số tiền 80.000 đồng để đánh bạc, đặt cược nhiều ván, mỗi ván 10.000 đồng, kết quả thắng 30.000 đồng. Nguyễn Hữu Đ dùng số tiền 20.000 đồng để đánh bạc, tham gia đặt cược nhiều ván, mỗi ván từ 5.000 đồng đến 7.000 đồng, thua hết số tiền 20.000 đồng. Hà Tuy H dùng số tiền 10.000 đồng để đánh bạc, đặt cược nhiều ván, mỗi ván 5.000 đồng, kết quả không thắng không thua. Huỳnh Văn D dùng số tiền 15.000 đồng để đánh bạc, tham gia đặt cược 01 ván 15.000 đồng, thua 15.000 đồng. Huỳnh Nhật T dùng số tiền 30.000 đồng để đánh bạc, đặt cược nhiều ván, mỗi ván từ 10.000 đồng đến 20.000 đồng, kết quả không thắng không thua. Dương Phi H dùng số tiền 10.000 đồng đánh bạc, tham gia đặt cược 01 ván 10.000 đồng, thua 10.000 đồng.
Vật chứng vụ án: Đang tạm giữ 01 bộ chén đĩa bằng nhôm và 01 tấm giấy hình chữ nhật được bọc nhựa trong suốt, một mặt in hình: Bầu, cua, tôm, cá, gà, nai, mặt còn lại được dán băng keo vàng; 03 hột xốp khối hình vuông có sáu mặt được dán các hình: bầu, cua, tôm, cá, gà, nai; số tiền 1.273.000 đồng. Đã trao trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp các tài sản gồm 01 điện thoại Itel, màu đen, loại bàn phím cơ; 01 điện thoại di động Iphone 6S; 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Wave RSX, màu đỏ đen, BKS 78U1 – 1731; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Redmi Miu 12060, màu đen, có gắn sim 0865218559.
Cáo trạng số 27/CT-VKSSC ngày 17/7/2022 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Sông Cầu đã truy tố bị cáo Phạm Thị Cvề tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa:
Bị cáo C khai nhận tội như đã khai tại Cơ quan điều tra, thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng đã truy tố là đúng.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Sông Cầu tham gia phiên tòa giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo tại Cáo trạng số 27/CT-VKSSC ngày 17/7/2022 và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Phạm Thị C phạm tội “Đánh bạc”. Áp dụng khoản 1 Điều 321, điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 65 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo C từ 06 – 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo với thời gian thử thách từ 12 – 18 tháng tù, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo Cho UBND xã Xuân Lộc, thị xã Sông Cầu, tỉnh Phú Yên giám sát giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách, gia đình bị cáo Có trách nhiệm phối hợp trong việc giám sát giáo dục.
- Hình phạt bổ sung: Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung do bị cáo không có nghề nghiệp, thu nhập ổn định.
- Về vật chứng vụ án: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự đề nghị
+ Tịch thu tiêu hủy các vật chứng gồm 01 bộ chén đĩa bằng nhôm và 01 tấm giấy hình chữ nhật được bọc nhựa trong suốt, một mặt in hình: Bầu, cua, tôm, cá, gà, nai, mặt còn lại được dán băng keo vàng; 03 hột xốp khối hình vuông có sáu mặt được dán các hình: bầu, cua, tôm, cá, gà, nai do không còn giá trị sử dụng.
+ Tịch thu sung quỹ nhà nước số tiền 1.273.000 đồng dùng vào việc phạm tội.
+ Đối với các tài sản gồm 01 điện thoại Itel, màu đen, loại bàn phím cơ; 01 điện thoại di động Iphone 6S; 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Wave RSX, màu đỏ đen, BKS 78U1 – 1731; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Redmi Miu 12060, màu đen, có gắn sim 0865218559 không được sử dụng vào việc đánh bạc, cơ quan CSĐT trao trả cho chủ sở hữu là hợp pháp nên đề nghị không xem xét.
Trong phần tranh luận: Bị cáo Cđồng ý với nội dung bản luận tội, không tranh luận. Bị cáo nói lời sau cùng, ăn năn hối cải và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, các quyết định tố tụng của Điều tra viên, của Cơ quan điều tra Công an thị xã Sông Cầu và Kiểm sát viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Sông Cầu trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo, những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và người làm chứng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.
Về tố tụng: Tại phiên tòa, tất cả những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và người làm chứng đều vắng mặt. Xét thấy những người này đã có lời khai tại hồ sơ vụ án nên sự vắng mặt của họ không gây trở ngại cho việc xét xử vụ án. Do đó, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án theo quy định tại Điều 292, Điều 293 Bộ luật Tố tụng Hình sự.
Về tội danh: Lời khai nhận tội của bị cáo Phạm Thị C tại phiên tòa và tại cơ quan điều tra phù hợp nhau, phù hợp lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và người làm chứng, phù hợp nội dung sự việc được ghi nhận tại Biên bản bắt người phạm tội quả tang lập ngày 15/02/2022 và các tài liệu, chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, đủ cơ sở xác định: Vào khoảng 16 giờ 20 phút ngày 15/02/2022, tại Thôn B, xã X2, thị xã S, tỉnh Phú Yên, Phạm Thị C, Đỗ Thị A, Nguyễn Văn Đ, Lê Tiến L, Nguyễn Vĩnh K, Nguyễn L, Nguyễn Hữu Đ, Hà Tuy H, Trần Thị H, Huỳnh Văn D, Huỳnh Nhật T, Hà Quốc H, Dương Phi H cùng tham gia đánh bạc dưới hình thức xóc bầu cua - bờ biển ăn thua bằng tiền với tổng số tiền là 1.273.000 đồng. Tuy số tiền đánh bạc dưới 5.000.000 đồng, nhưng bị cáo C có 01 tiền sự về hành vi đánh bạc, cụ thể bị Công an thị xã Sông Cầu, tỉnh Phú Yên xử phạt vi phạm hành chính số tiền 1.500.000 đồng về hành vi đánh bạc ngày 04/11/2021. Do đó, hành vi của bị cáo C đã đủ yếu tố cấu thành tội “Đánh bạc” quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự. Quyết định truy tố tại bản Cáo trạng số 27/CT - VKSSC ngày 17/7/2022 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Sông Cầu và lời luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa là hoàn toàn có căn cứ, đúng người, đúng tội.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, chẳng những xâm phạm đến trật tự công cộng, trị an địa phương, nếp sống văn minh, mà còn là nguyên nhân dẫn đến các tệ nạn xã hội và các tội phạm khác. Bản thân bị cáo có 01 tiền sự về hành vi đánh bạc, cụ thể bị Công an thị xã Sông Cầu xử phạt vi phạm hành chính số tiền 1.500.000 đồng về hành vi đánh bạc ngày 04/11/2021, bị cáo chấp hành nộp phạt vào ngày 11/11/2021 nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học cho bản thân mà ngày 15/02/2022 tiếp tục vi phạm. Vì vậy, cần phải xử phạt bị cáo mức án nghiêm, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội là cần thiết để giáo dục, răn đe bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội. Tuy nhiên, quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, Bị cáo C thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; bị cáo không có tình tiết tăng nặng; số tiền tham gia đánh bạc không lớn; bị cáo có nơi cư trú rõ ràng; đối với tiền sự của bị cáo về hành vi đánh bạc đã được áp dụng làm căn cứ định tội. Mặt khác, bản thân bị cáo không biết chữ, trình độ nhận thức kém, bị cáo đang trực tiếp nuôi chồng bị bệnh ung thư. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận đề nghị của Kiểm sát viên, áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 BLHS và Điều 65 BLHS cho bị cáo hưởng án treo, không nhất thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội, vẫn có tác dụng giáo dục bị cáo và phòng ngừa tội phạm.
Xét bị cáo hoàn cảnh kinh tế gia đình khó khăn, không có nghề nghiệp tạo thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung.
Về xử lý vật chứng:
Các vật chứng gồm 01 bộ chén đĩa bằng nhôm và 01 tấm giấy hình chữ nhật được bọc nhựa trong suốt, một mặt in hình: Bầu, cua, tôm, cá, gà, nai, mặt còn lại được dán băng keo vàng; 03 hột xốp khối hình vuông có sáu mặt được dán các hình: bầu, cua, tôm, cá, gà, nai là vật dùng vào việc phạm tội, không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.
Vật chứng là số tiền: 1.273.000 đồng là tiền dùng vào việc phạm tội nên tịch thu sung quỹ nhà nước.
Đối với các tài sản gồm 01 điện thoại Itel, màu đen, loại bàn phím cơ; 01 điện thoại di động Iphone 6S; 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Wave RSX, màu đỏ đen, BKS 78U1 – 1731; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Redmi Miu 12060, màu đen, có gắn sim 0865218559 không được sử dụng vào việc đánh bạc, việc cơ quan CSĐT trao trả cho chủ sở hữu hợp pháp là đúng quy định nên không xem xét.
Các vấn đề khác:
Đối với Đỗ Thị A, Nguyễn Văn Đ, Lê Tiến L, Nguyễn Vĩnh K, Nguyễn L, Nguyễn Hữu Đ, Hà Tuy H, Trần Thị H, Huỳnh Văn D, Huỳnh Nhật T, Hà Quốc H, Dương Phi H tham gia đánh bạc với số tiền 1.273.000 đồng, dưới 05 triệu đồng, trước đó chưa bị xử phạt vi phạm hành chính nên không cấu thành tội Đánh bạc. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Sông Cầu đã chuyển xử phạt vi phạm hành chính.
Đối với số người khác tham gia đánh bạc chạy thoát, quá trình điều tra không xác minh được nhân thân lai lịch nên không đủ cơ sở để xử lý.
Về án phí: Bị cáo Cbị kết án phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 65; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106, Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự; Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.
1. Tuyên bố: Bị cáo Phạm Thị C phạm tội Đánh bạc.
2. Xử phạt: Bị cáo 09 (Chín) tháng tù cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 18 (Mười tám) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Hình phạt bổ sung: Không.
Giao bị cáo Phạm Thị C cho UBND xã Xuân Lộc, thị xã Sông Cầu, tỉnh Phú Yên giám sát giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình người được hưởng án treo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục Phạm Thị C.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố tình vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trong trường hợp người được hưởng án treo vắng mặt tại nơi cư trú, thay đổi nơi cư trú hoặc nơi làm việc thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật thi hành án hình sự năm 2019.
3. Về xử lý vật chứng:
Tịch thu tiêu hủy các vật chứng có tại biên bản giao nhận vật chứng ngày 19/7/2022 giữa cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã Sông Cầu và Chi cục thi hành án Dân sự thị xã Sông Cầu gồm: 01 bộ chén đĩa bằng nhôm; 01 tấm giấy hình chữ nhật được bọc nhựa trong suốt, một mặt in hình: Bầu, cua, tôm, cá, gà, nai, mặt còn lại được dán băng keo vàng; 03 hột xốp khối hình vuông có sáu mặt được dán các hình: bầu, cua, tôm, cá, gà, nai.
Tịch thu sung quỹ nhà nước số tiền 1.273.000 đồng (Một triệu hai trăm bảy mươi ba nghìn đồng) có tại biên lai thu tiền số 0001545 ngày 19/07/2022 của Chi cục thi hành án Dân sự thị xã Sông Cầu, tỉnh Phú Yên.
4. Về án phí: Buộc bị cáo Phạm Thị C phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
5. Quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Phú Yên; - Sở tư pháp Phú Yên; - VKSND TX. Sông Cầu; - VKSND tỉnh PY; - CSĐT Công an TX. Sông Cầu; - Chi cục THADS TX. Sông Cầu; - CQ THA HS TX.Sông Cầu; - Bị cáo; - Người liên quan; - Lưu hồ sơ, án văn. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Phạm Thị Ngọc Tiên |