vanban.org

Bản án 44/2022/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Tuyên Quang, tỉnh Tuyên Quang Tuyên án 17/05/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo ĐINH VĂN C phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.

Xử phạt: Bị cáo ĐINH VĂN C 02 (Hai) năm tù; thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam ngày 05 tháng 01 năm 2022. Về biện pháp tư pháp: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật hình sự; Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bản án số: 44/2022/HS-ST - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo ĐINH VĂN C phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ T
TỈNH TUYÊN QUANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 44/2022/HS-ST
Ngày: 17-5-2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ T, TỈNH TUYÊN QUANG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Anh Tuấn.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Lê Thị Thảo.

2. Ông Hà Hữu Bình.

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hoài Hương - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố T, tỉnh Tuyên Quang.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố T, tỉnh Tuyên Quang tham gia phiên tòa: Ông Trần Việt Cường - Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 5 năm 2022, tại Phòng xét xử của Tòa án nhân dân thành phố T, tỉnh Tuyên Quang, mở phiên tòa công khai xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 37/2022/TLST-HS ngày 19 tháng 4 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 42/2022/QĐXXST-HS, ngày 04 tháng 5 năm 2022, đối với bị cáo:

Họ và tên: ĐINH VĂN C, sinh ngày 17 tháng 12 năm 1983, tại tỉnh Tuyên Quang;

Nơi đăng ký HKTT, chỗ ở: Thôn An Lạc 2, xã X, huyện Y, tỉnh Tuyên Quang.

Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam.

Con ông Đinh Văn P (đã chết) và con bà Trần Thị T, sinh năm 1952.

Anh, chị, em ruột: Có 06 người, bị cáo là thứ năm.

Vợ: Nguyễn Thị Bích P (đã ly hôn).

Con: Có 02 người con, lớn sinh năm 2017, nhỏ sinh năm 2019.

- Tiền án: Ngày 19/9/2019 Toà án nhân dân thành phố T, tỉnh Tuyên Quang, xử phạt ĐINH VĂN C 01 năm tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy; chấp hành xong ngày 29/4/2020 (Bản án số 113/2019/HSST).

- Tiền sự: Không.

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 05/01/2022, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Tuyên Quang - Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

ĐINH VĂN C, trú tại thôn An Lạc 2, xã X, huyện Y, tỉnh Tuyên Quang, là người có sử dụng trái phép chất ma túy từ trước, nên khoảng 15 giờ 00 phút ngày 05/01/2022 C một mình điều khiển xe môtô biển số 22H9-0322 (xe của C) đi từ xã X, huyện Y, tỉnh Tuyên Quang, sang bến xe khách thành phố N, tỉnh Thái Nguyên, mục đích để tìm mua ma túy về sử dụng. Đến nơi, C gặp một người đàn ông tên H (C không biết rõ họ, tên đệm, địa chỉ cụ thể) và hỏi mua được 01 gói ma túy loại Heroine bên ngoài được gói bằng nilon màu trắng, bên trong đều chứa chất bột vón cục màu trắng ngà với giá 2.000.000 đồng (Hai triệu đồng). Mua xong, C cầm gói ma túy ở tay trái rồi điều khiển xe môtô đi về Tuyên Quang. Đi đến khu vực đèo Khế, thuộc xã Y, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên, C dừng xe, lấy một ít ma túy ra sử dụng bằng hình thức đốt hít vào cơ thể, số còn lại C tiếp tục cầm ở tay trái rồi điều khiển xe môtô đi về Tuyên Quang. Khi C đi đến khu vực xóm 2, xã T, thành phố T thì bị Tổ công tác của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T, tỉnh Tuyên Quang, yêu cầu kiểm tra và phát hiện 01 gói ma túy C đang cầm ở trong lòng bàn tay trái. C khai nhận là ma túy loại Heroine, mua về để bản thân sử dụng. Tổ công tác đã tiến hành lập Biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với C về hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy hồi 20 giờ 30 phút cùng ngày.

Tiến hành xét nghiệm tìm chất ma túy đối với Chí, kết quả (+) dương tính, có chất ma túy trong cơ thể.

Tại bản kết luận giám định số: 117/GĐKTHS ngày 08/01/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Tuyên Quang, kết luận đối với vật chứng thu giữ của ĐINH VĂN C: Mẫu gửi giám định là chất ma túy, loại Heroine khối lượng 1,128g (Một phẩy một hai tám gam).

Vật chứng: Cơ quan Cảnh sát điều tra thu giữ của C 01 gói nhỏ chứa chất ma túy loại Heroine được niêm phong theo quy định; tạm giữ 01 chiếc xe môtô biển số 22H9-0322. Toàn bộ vật chứng chuyển theo hồ sơ chờ xử lý.

Tại Cơ quan điều tra, ĐINH VĂN C đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Hành vi phạm tội của C còn được chứng minh bằng biên bản bắt người phạm tội quả tang; vật chứng thu giữ; kết luận giám định cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.

Bản Cáo trạng số: 45/CT-VKSTP, ngày 18 tháng 4 năm 2022, của Viện kiểm sát nhân dân thành phố T, tỉnh Tuyên Quang, đã truy tố ĐINH VĂN C về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, Bị cáo C tiếp tục khai nhận hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy với mục đích để bản thân sử dụng chứ không bán cho ai, nH khi đang cất giấu 1,128g (Một phẩy một hai tám gam) ma túy loại Heroine trong lòng bàn tay trái thì bị phát hiện và bắt giữ. Bị cáo có trực tiếp chứng kiến niêm phong và mở niêm phong phong bì ma túy đã thu giữ của bị cáo. Bị cáo không có ý kiến gì về kết quả giám định 01 phong bì đựng ma túy đã thu giữ của bị cáo và không yêu cầu giám định lại. Viện kiểm sát nhân dân thành phố T, tỉnh Tuyên Quang, đã truy tố bị cáo là đúng tội, không oan.

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên luận tội giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo ĐINH VĂN C và đề nghị Hội đồng xét xử:

- Tuyên bố: Bị cáo ĐINH VĂN C phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý.

- Áp dụng: Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật hình sự.

- Xử phạt: Bị cáo ĐINH VĂN C từ 01 (Một) năm 09 (Chín) tháng đến 02 (Hai) năm tù; thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam ngày 05 tháng 01 năm 2022.

Bị cáo C là người sử dụng ma túy; việc tàng trữ ma túy là để sử dụng không nhằm mục địch vụ lợi; bản thân bị cáo nghề nghiệp, thu nhập không ổn định; là hộ nghèo, nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

- Về biện pháp tư pháp: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật hình sự; Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.

+ Tịch thu tiêu huỷ 01 (Một) phong bì niêm phong bên trong có chứa chất ma túy loại Heroine.

+ 01 (Một) môtô biển số 22H9-0322, nhãn hiệu HONDA, loại xe Wave, xe cũ, đã qua sử dụng; xét thấy xe môtô này bị cáo không trực tiếp sử dụng vào hành vi phạm tội, nên trả lại cho bị cáo C theo quy định của pháp luật.

Bị cáo C là hộ nghèo, nên miễn toàn bộ tiền án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo. Bị cáo C được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Bị cáo C không có ý kiến tranh luận gì với nội dung luận tội của Kiểm sát viên. Bị cáo xin Hội đồng xét xử xử phạt mức án nhẹ nhất để sớm về với gia đình.

Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên; của bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Tại phiên toà Kiểm sát viên đã thực hiện đúng nhiệm vụ, quyền hạn khi thực hành quyền công tố. Như vậy, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã được thực hiện đúng quy định của pháp luật.

[2] Về hành vi phạm tội Viện kiểm sát đã truy tố bị cáo: Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa là phù hợp với lời khai tại Cơ quan Cảnh sát điều tra; phù hợp với vật chứng đã thu giữ; Kết luận giám định, nên có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 20 giờ 30 phút ngày 05/01/2022, tại khu vực xóm 2, xã T, thành phố T , tỉnh Tuyên Quang, Đinh Văn C, trú tại thôn An Lạc 2, xã X, huyện Y, tỉnh Tuyên Quang đã có hành vi tàng trữ trái phép 1,128g (Một phẩy một hai tám gam) Heroine, mục đích để sử dụng, thì bị Tổ công tác Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T, tỉnh Tuyên Quang, phát hiện lập biên bản bắt người phạm tội quả tang. Bị cáo C đã tàng trữ trái phép 1,128g (Một phẩy một hai tám gam) ma tuý loại Heroine là thuộc trường hợp tàng trữ Heroine có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam. Do vậy, Viện kiểm sát nhân dân thành phố T, tỉnh Tuyên Quang, truy tố ĐINH VĂN C về tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự là đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.

[3] Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội. Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự; tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Bị cáo C nhận thức được việc tàng trữ trái phép chất ma tuý là vi phạm pháp luật; việc sử dụng ma tuý trái phép có ảnh hưởng xấu đến sức khỏe của bản thân và kinh tế gia đình, gây mất trật tự ở địa phương, góp phần làm gia tăng tệ nạn sử dụng trái phép chất ma tuý ở địa phương, nH bị cáo vẫn cố ý sử dụng ma tuý trái phép dẫn đến tàng trữ trái phép chất ma tuý. Hành vi phạm tội của bị cáo thuộc trường hợp nghiêm trọng do lỗi cố ý, nên cần xử phạt bị cáo nghiêm minh theo quy định của pháp luật và cần buộc bị cáo phải cách ly xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo cũng như phục vụ công tác phòng chống tội phạm chung.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo C phạm tội lần này trong thời gian chưa được xóa án tích của bản án trước, nên Bị cáo C thuộc trường hợp tái phạm quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Xét thấy Bị cáo C tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội, nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.

Ngoài ra bố đẻ của Bị cáo C là ông Đinh Văn P được Nhà nước tặng Huân chương kháng chiến hạng Ba, nên đây là tình tiết giảm nhẹ khác quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự để áp dụng cho Bị cáo C.

Về vai trò của bị cáo: Trong vụ án này, Bị cáo C một mình thực hiện hành vi phạm tội, nên bị cáo phải chịu trách nhiệm với toàn bộ hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuý của mình đã gây ra.

Do vậy, xử phạt Bị cáo C mức án như Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố T, đề nghị tại phiên tòa là phù hợp và có căn cứ pháp luật.

Bị cáo C là người sử dụng ma túy; việc tàng trữ ma túy là để sử dụng không nhằm mục địch vụ lợi; bản thân bị cáo nghề nghiệp, thu nhập không ổn định; là hộ nghèo, nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[4] Về biện pháp tư pháp: - 01 (Một) phong bì đựng ma túy loại Heroine đã niêm phong. Xét thấy đây là vật cấm tàng trữ trái phép, nên tịch thu tiêu hủy theo quy định tại Điều 47 của Bộ luật hình sự; Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.

- 01 (Một) xe môtô biển số 22H9-0322, xét thấy đây là tài sản chung của gia đình Bị cáo C; xe môtô này không trực tiếp sử dụng vào hành vi phạm tội của bị cáo, nên trả lại cho bị cáo theo quy định của pháp luật.

[5] Hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của ĐINH VĂN C ngày 19/01/2022, Công an thành phố T đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 000186/QĐ-XPVPHC, bằng hình thức phạt tiền 1.500.000 đồng là đúng quy định của pháp luật, nên không xem xét giải quyết.

[6] Đối với người đàn ông tên H đã bán ma túy cho Bị cáo C, do không xác định được họ, tên, địa chỉ cụ thể, nên không có căn cứ để điều tra, xử lý là có căn cứ pháp luật.

Bị cáo C là hộ nghèo, nên miễn toàn bộ tiền án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo. Bị cáo được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật hình sự.

1. Tuyên bố: Bị cáo ĐINH VĂN C phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.

2. Xử phạt: Bị cáo ĐINH VĂN C 02 (Hai) năm tù; thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam ngày 05 tháng 01 năm 2022.

3. Về biện pháp tư pháp: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật hình sự; Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.

- Tịch thu tiêu hủy 1,078g (Một phẩy không bẩy tám gam) ma túy Herine (số còn lại sau giám định) được niêm phong trong một phong bì giấy còn nguyên vẹn, mặt trước bì ghi “Tang vật vụ ĐINH VĂN C, giám định ngày 05/01/2022”, mặt sau trên các mép dán có chữ ký của đương sự ĐINH VĂN C cùng các thành phần tham gia giám định và 05 (Năm) hình dấu của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Tuyên Quang.

- Trả lại cho bị cáo ĐINH VĂN C 01 (Một) xe môtô nhãn hiệu HONDA, loại xe Wave, màu sơn đỏ, biển số 22H9-0322, số khung: RLHHC09033Y512354, số máy: HC09E-0512398, xe cũ đã qua sử dụng. Tình trạng xe không có gương chiếu hậu, trên thân vỏ có nhiều vết xước và 01 (Một) chìa khóa của xe trên.

Tình trạng vật chứng, tài sản trên như Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản giữa Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an thành phố T với Chi cục thi hành án dân sự thành phố T, tỉnh Tuyên Quang, lập ngày 25/4/2022.

4. Về án phí: Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án.

Miễn toàn bộ tiền án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo ĐINH VĂN C.

5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo ĐINH VĂN C được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ