- Tranh chấp gì? án hình sự — "ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Áp dụng : Điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38, điểm c khoản 1, khoản 2 Điều 47 của Bộ luật hình sự; khoản 1, điểm a khoản 2, điểm b khoản 3 Điều 106, khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136, các Điều 331, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Đi…
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN UH- TP HÀ NỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số : 44/2022/HS-ST Ngày 09/8/2022 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN UH- TP HÀ NỘI
-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán- Chủ toạ phiên toà : Ông Nguyễn Thành Trung
Các Hội thẩm nhân dân :
Ông Đặng Viết Côi, cán bộ hưu trí huyện UH;
Ông Nguyễn Hạ Tuấn, cán bộ hưu trí huyện UH
- Thư ký phiên toà : Bà Tưởng Thị Lan - Thư ký Toà án nhân dân huyện UH
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện UH tham gia phiên toà : Bà Nguyễn Thị Cúc - Kiểm sát viên.
Ngày 09 tháng 8 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện UH, Thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số : 41/2022/TLST-HS ngày 19 tháng 7 năm 2022 đối với bị cáo : NGUYỄN VĂN Q, sinh năm 1970, sinh quán và nơi cư trú : Thôn HX, xã HS, huyện MĐ, thành phố Hà Nội; quốc tịch : Việt Nam; dân tộc : Kinh; tôn giáo : Không; nghề nghiệp : Lao động tự do; trình độ học vấn : 6/12; con ông : Nguyễn Văn T; con bà : Nguyễn Thị N (Đều đã chết); vợ : Nguyễn Thị T, con : có 02 con (Lớn sinh năm 1990, con nhỏ sinh năm 1992); tiền án, tiền sự : Không; bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 17/5/2022 đến ngày 25/5/2022 được thay đổi biện pháp ngăn chặn bằng biện pháp : Cấm đi khỏi nơi cư trú; có mặt tại phiên tòa.
1.Ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan : Anh Vương Võ G, sinh năm 1984; trú tại : Thôn ĐK, xã HS, huyện MĐ, thành phố Hà Nội, có mặt.
2. Ngƣời làm chứng : Anh Nguyễn Tuấn H2, sinh năm 1964; Thôn BLH, xã HQ, huyện UH, thành phố Hà Nội, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN :
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau : Khoảng 10h30’ ngày 17/5/2022, Tổ công tác - Công an xã HQ làm nhiệm vụ tuần tra, kiểm soát tại khu vực thôn HV, xã HQ, huyện UH, phát hiện Nguyễn Văn Q điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Wave anpha, biển kiểm soát 33M3- 4112 đi trên đường có biểu hiện nghi vấn, tổ công tác yêu cầu dừng xe kiểm tra; ngay lúc này Q đã thả 01 gói nhỏ cầm trong lòng bàn tay trái xuống dưới đất, tổ công tác phát hiện yêu cầu Q nhặt lên 01 gói có đặc điểm kích thước (01 x 1,5)cm, bên ngoài bọc bằng giấy màu trắng, bên trong chứa chất bột màu trắng. Tại chỗ Q khai nhận đó là ma túy Heroin, Q vừa mua của một người đàn ông không quen biết ở khu vực thôn HV, xã HQ với giá 200.000 đồng, mục đích để sử dụng cho bản thân. Tổ công tác đã tiến hành niêm phong vào phong bì thư, Q chứng kiến và ký tên vào các mép niêm phong; đồng thời lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Q.
Vật chứng thu giữ: 01 gói giấy màu trắng, kích thước (01 x 1,5)cm, bên trong chứa chất bột màu trắng niêm phong trong phong bì thư đề mẫu A1; 01 xe mô tô nhãn hiệu Wave anpha màu xanh, biển kiểm soát 33M3- 4112; 01 điện thoại Nokia 1280 màu đen đã cũ.
Ngày 17/5/2022, Cơ quan CSĐT- Công an huyện UHđã ra Q định trưng cầu giám định số 91 đối với 01 gói chứa chất bột màu trắng đã thu giữ trên. Tại bản Kết luận giám định số 3202/KL-KTHS, ngày 25/5/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an thành phố Hà Nội kết luận: “Chất bột màu trắng bên trong 01 gói giấy màu trắng (ký hiệu Mẫu A1) là ma túy loại Heroine, khối lượng: 0,122 gam”.
Với hành vi nêu trên, tại bản Cáo trạng số : 43/CT - VKS ngày 18/7/2022 Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện UH truy đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn Q về tội : “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên toà :
Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội như đã nêu trên;
Kiểm sát viên thực hành quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên quan điểm truy tố cả về tội danh, nội dung vụ án cũng như điều luật, khoản áp dụng như nêu trong bản Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử giải Q vụ án như sau :
- Về tội danh và mức hình phạt : Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự : Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn Q phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Q từ 15 tháng đến 18 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án, được trừ thời gian tạm gữ từ ngày 17/5/2022 đến ngày 25/5/2022; không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo theo khoản 5 Điều 249 của Bộ luật hình sự;
- Về xử lý vật chứng : Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự : Tịch thu tiêu hủy số ma túy sau giám định gửi trả lại; trả lại : Bị cáo 01 điện thoại di động Nokia 1280 màu đen đã cũ; trả lại anh Vương Võ G 01 xe mô tô nhãn hiệu Wave anpha màu xanh, biển kiểm soát 33M3- 4112 (Tình trạng, đặc điểm các vật chứng trên theo biên bản bàn giao, nhận vật chứng ngày 09/8/2022 giữa cơ quan công an đến Chi cục thi hành án dân sự huyện UH quản lý);
- Về án phí và quyền kháng cáo : Căn cứ các Điều 135, 136, 331, 333 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Nghị Q số 326/2016/UBTVQH14 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội : Buộc bị cáo Nguyễn Văn Q phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn) đồng án phí Hình sự sơ thẩm. Bị cáo; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.
Căn cứ vào những chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà; kết quả tranh luận tại phiên toà, trên cơ sở xem xét đầy đủ, khách quan, toàn diện các chứng cứ, ý kiến của kiểm sát viên, bị cáo, người làm chứng, người tham gia tố tụng khác.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN :
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau :
Về tố tụng : Hành vi, Q định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân, kiểm sát viên huyện UHđều đã thực hiện đầy đủ, đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.
Về hình vi của bị cáo : Tại phiên toà bị cáo nhận tội như nội dung cáo trạng của Viện kiểm sát đã qui kết. Xét thấy lời nhận tội của bị cáo phù hợp biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng đã thu giữ được, bản kết luận giám định, người làm chứng cùng các tài liệu khác đã được thu thập hợp pháp có trong hồ sơ vụ án. Vì vậy, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận : Nguyễn Văn Q là người nghiện chất ma túy, ngày 17/5/2022 Q có hành vi tàng trữ trái phép 01 gói nhỏ ma túy, mục đích để sử dụng, đã bị lực lượng công an bắt quả tang. Giám định vật chứng thu được xác định là ma túy loại Heroine, khối lượng: 0,122 gam.
Về tội danh : Bằng hành cất giữ trái phép số ma túy Heerroin như đã nêu trên. Đối chiếu với quy định của pháp luật thì, bị cáo đã phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự. Vì vậy Viện trưởng viện kiểm sát nhân dân huyện UH truy tố bị cáo về tội danh, điều, khoản trong cáo trạng là có căn cứ, đúng pháp luật.
Xét về tính chất : Hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý và sử dụng chất ma tuý của Nhà nước, gây mất trật tự xã hội, là nguyên nhân phát sinh các tội phạm khác. Bị cáo là người nghiện chất ma túy. Vì vậy cần phải áp dụng mức hình phạt tù, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định đủ để cải tạo, giáo dục bị cáo; phù hợp với tích chất, mức độ của hành vi phạm tội, đồng thời cũng để cho bị có có thời gian cai nghiện trong trại giam, sau khi mãn hạn tù trở thành người hữu ích cho gia đình và xã hội. Tuy nhiên, Hội đồng xét xử xét thấy quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải, có nhân thân tốt là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự, khi Q định hình phạt.
Về hình phạt bổ sung : Hoàn cảnh gia đình bị cáo khó khăn nên Toà không áp dụng hình phạt bổ sung (Phạt tiền) theo khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự.
[6] Nguồn gốc gói ma tuý : Nguyễn Văn Q khai mua của một đàn ông không quen biết, tại khu vực thôn HV, xã HQ, huyện UH, TP. Hà Nội, Q không biết tên tuổi, địa chỉ cụ thể của người này, việc mua bán ma túy diễn ra ngoài đường không có ai biết. Do vậy, Cơ quan điều tra không có căn cứ xác minh làm rõ.
Xử lý vật chứng :
7.1 Đối với xe mô tô nhãn hiệu Wave anpha màu xanh, biển kiểm soát 33M3- 4112, quá trình điều tra làm rõ chiếc xe trên là của anh Vương Võ G (con dể bị can Q).Ngày 17/5/2022, anh G cho Q mượn chiếc xe trên, việc Q sử dụng xe đi mua ma túy anh G không biết. Tra cứu xe máy vật chứng, chiếc xe trên không thuộc vật chứng của vụ án khác, vì vậy trả lại anh G sử dụng xe là phù hợp quy định pháp luật.
7.2 Số ma túy Hêroin sau khi giám định niêm phong gửi trả lại, đây là vật cấm; 01 vỏ bao thuốc lá Thăng Long màu vàng không có giá trị sử dụng. Vì vậy, cần tịch thu tiêu huỷ là phù hợp với Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật hình sự;
7.3 Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 1280 màu đen đã cũ, thu giữ của bị cáo, điện thoại không có liên quan đến vụ án, do đó trả lại bị cáo sử dụng là phù hợp.
Về án phí, quyền kháng cáo : Căn cứ các Điều 135, 136, 331, 333 của Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị Q số 326/2016/UBTVQH14 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phi và lệ phi ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội : Bị cáo Nguyễn Văn Q phải chịu 200.000đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí Hình sự sơ thẩm và được quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên;
Q ĐỊNH :
Áp dụng : Điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38, điểm c khoản 1, khoản 2 Điều 47 của Bộ luật hình sự; khoản 1, điểm a khoản 2, điểm b khoản 3 Điều 106, khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136, các Điều 331, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị Q số 326/2016/UBTVQH14 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
1.Tuyên bố bị cáo : Nguyễn Văn Q phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
2. Về hình phạt : Xử phạt Nguyễn Văn Q 18 (Mười tám) tháng tù, thời điểm chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án, được trừ thời hạn tạm giữ từ ngày 17/5/2022 đến ngày 25/5/2022.
3. Về xử lý vật chứng :
- Tịch thu tiêu huỷ : Số ma túy (Hêroin) sau giám định gửi lại, đựng trong 01 (Một) phong bì được niêm phong đề Công an thành phố Hà Nội, đơn vị Công an huyện UH, mặt bên có chữ kỹ của giám định viên Trần Huy Vũ và Nguyễn Văn Q, cán bộ Trương Văn Cường và dấu của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện UHtại các mép niêm phong;
- Trả lại : Bị cáo 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 1280 màu đen đã cũ; trả lại anh Vương Võ G 01 xe mô tô nhãn hiệu Wave anpha màu xanh, biển kiểm soát 33M3- 4112 (Tình trạng, đặc điểm các vật chứng trên theo biên bản bàn giao, nhận vật chứng ngày 09/8/2022 giữa cơ quan công an đến Chi cục thi hành án dân sự huyện UH quản lý).
4. Về án phí : Buộc bị cáo Nguyễn Văn Q phải chịu 200.000đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí Hình sự sơ thẩm.
5.Về quyền kháng cáo : Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan (Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo phần liên quan trực tiếp đến quyền lợi của mình) đều được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.
| Nơi nhận : - TANDTP Hà Nội; - VKSND; Công an huyện UH; - Chi cục T.H.ADS huyện UH; - Bị cáo; - Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; - Lưu : Hồ sơ vụ án; VP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Nguyễn Thành Trung |