vanban.org

Bản án 44/2022/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Hậu Lộc, tỉnh Thanh Hóa Tuyên án 08/12/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

* Căn cứ: - Điểm b khoản 2 Điều 251; Điều 17; Điều 50; Điều 58; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; điểm a, c khoản 1 Điều 47 BLHS; điểm a khoản 2 Điều 106; khoản 2 Điều 136 BLTTHS; Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/ UBTVQH ngày 30/12/2016 về án phí, lệ phí Tòa án đối với T…

Điểm q khoản 2 Điều 251; Điều 17; Điều 50; Điều 58; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; điểm a, c khoản 1 Điều 47 BLHS; điểm a khoản 2 Điều 106; khoản 2 Điều 136 BLTTHS; Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 về án phí, lệ phí Tòa án đối với Hoàng Văn Th. * Tuyên bố: Các bị c… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Mua bán trái phép chất ma túy - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? * Căn cứ: - Điểm b khoản 2 Điều 251; Điều 17; Điều 50; Điều 58; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; điểm a, c khoản 1 Điều 47 BLHS; điểm a khoản 2 Điều 106; khoản 2 Điều 136 BLTTHS; Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/ UBTVQH ngày 30/12/2016 về án phí, lệ phí Tòa án đối với T…
  • Căn cứ chính? Điều 251 Bộ luật Hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN HẬU LỘC
TỈNH TH HÓA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số:44/2022/HS-ST
Ngày 08-12-2022.

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HẬU LỘC – TỈNH TH HÓA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Cao Văn Sang

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Trịnh Công Kiều

2. Bà Lê Thu Hương.

Thư ký phiên tòa: Bà Trương Mỹ Dung – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hậu Lộc.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hậu Lộc tham gia phiên tòa:

Bà Lê Thị Ninh - Kiểm sát viên.

Ngày 08 tháng 12 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hậu Lộc.

Xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 46/2022/TLST-HS ngày 18 tháng 11 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số:47/2022/QĐXXST-HS ngày 28 tháng 11 năm 2022 đối với các bị cáo:

1. Họ tên: Trƣơng Văn B, sinh ngày 09/10/1990 tại xã Thành Lộc, huyện Hậu Lộc, tỉnh Th Hóa.

Trú tại: Thôn Thành Tây, xã Thành Lộc, huyện Hậu Lộc, tỉnh Th Hóa.

Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 11/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Trương Văn Đồng (đã chết) và bà Phạm Thị Thơm, sinh năm 1973; Gia đình có 03 người con, bị cáo là con thứ nhất trong gia đình. Có vợ là Phạm Thị Phượng, sinh năm 1992 và 02 con, con lớn sinh năm 2015, con nhỏ sinh năm 2019.

Tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân: Ngày 15/4/2016 bị Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội xét xử phúc thẩm về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, được miễn trách nhiệm hình sự.

Trương Văn B bÞ t¹m gi÷, t¹m giam từ ngày 24/8/2022. Có mặt tại phiên tòa.

2. Họ tên: Hoàng Văn Th, sinh ngày 05/10/1973 tại xã Tiến Lộc, huyện Hậu Lộc, tỉnh Th Hóa.

Trú tại: Thôn Thị Trang, xã Tiến Lộc, huyện Hậu Lộc, tỉnh Th Hóa.

Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 8/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Hoàng Văn Khang (đã chết) và bà Vũ Thị Tao, đã chết; Gia đình có 05 người con, bị cáo là con thứ năm trong gia đình. Có vợ là Vũ Thị Nguyệt, sinh năm 1975 và 02 con, con lớn sinh năm 1995, con nhỏ sinh năm 1997;

Tiền sự; Không; Tiền án: Ngày 03/7/2007, bị Toà án nhân dân tỉnh Th Hoá xử phạt 08 năm tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy. Tổng hợp hình phạt 54 tháng tù tại Bản án số 27/2006/HSST ngày 22/12/2006 của Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Linh, tỉnh Quảng Trị. Tổng hợp hình phạt chung là 12 năm 06 tháng tù. Đến ngày 20/01/2015 chấp hành xong hình phạt về địa phương sinh sống, chưa được xoá án tích ; Ngày 17/11/2016, bị Toà án nhân dân huyện Hậu Lộc xử phạt 05 năm tù về tội Mua bán, tàng trữ trái phép chất ma túy, đến ngày 17/4/2021 chấp hành xong hình phạt về địa phương sinh sống, chưa được xoá án tích.

Hoàng Văn Th bÞ t¹m gi÷, t¹m giam từ ngày 24/8/2022. Có mặt tại phiên tòa.

- Người tham gia tố tụng khác:

* Ngƣời có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

1. Anh Trần Văn Đức, sinh năm 1982. Vắng mặt

Trú tại: Thôn Thành Ninh, xã Thành Lộc, huyện Hậu Lộc, tỉnh Th Hóa.

2. Anh Trịnh Văn Thông, sinh năm 1994. Vắng mặt

Trú tại: Thôn Khánh Vượng, xã Lộc Sơn, huyện Hậu Lộc, tỉnh Th Hóa.

* Ngƣời làm chứng:

1. Chị Phạm Thị Thơm, sinh năm 1973. Vắng mặt

Trú tại: Thôn Thành Ninh, xã Thành Lộc, huyện Hậu Lộc, tỉnh Th Hóa.

* Ngƣời chứng kiến:

1. Ông Lê Văn Tơ, sinh năm 1965. Vắng mặt

2. Ông Lê Văn Quê, sinh năm 1955. Vắng mặt

Cùng địa chỉ: Thôn Thành Tây, xã Thành Lộc, huyện Hậu Lộc, tỉnh Th Hóa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 06 giờ 15 phút ngày 24/8/2022, tại khu vực thôn Thành Tây, xã Thành Lộc, huyện Hậu Lộc. Tổ công tác của Công an huyện Hậu Lộc đã kiểm tra Trương Văn B đang điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 36M1 - 8435 có biểu hiện nghi vấn tàng trữ trái phép chất ma túy. Quá trình kiểm tra đã thu giữ được: 01 (một) túi nilong màu trắng viền đỏ kích thước khoảng 05 x 05 cm bên trong đựng 01 (một) viên nén hình trụ màu xanh; 09 (chín) túi nilong màu trắng kích thước mỗi túi đều khoảng 0,5 x 0,5 cm bên trong mỗi túi đều đựng một viên nén hình trụ màu hồng; 01 (một) túi nilong màu trắng kích thước khoảng 01 x 01 cm bên trong đựng 02 (hai) viên nén hình trụ màu hồng và 14 (mười bốn) túi nilong màu trắng kích thước mỗi túi đều khoảng 0,5 x 0,5 cm bên trong mỗi túi nilong đựng một mảnh viên nén màu hồng (nghi là ma túy) đều ở bên trong khẩu trang của Trương Văn B đang đeo; 01 (một) điện thoại Nokia 1280 màu đen đã qua sử dụng có gắn sim số 0362.890.354 và chiếc xe mô tô biển kiểm soát 36M1 - 8435.

Khám xét khẩn cấp nơi ở của Trương Văn B ở thôn Thành Tây, xã Thành Lộc, huyện Hậu Lộc không thu giữ được gì.

Quá trình điều tra, Trương Văn B đã khai nhận: Khoảng 16 giờ 00 phút ngày 21/8/2022, B điều khiển xe mô tô đến nhà Hoàng Văn Th ở thôn Thị Trang, xã Tiến Lộc, huyện Hậu Lộc gặp và mua của Th 01 (một) viên nén hình trụ màu xanh; 19 (mười chín) viên nén hình trụ màu hồng và 01 (một) gói heroin với giá 800.000 đồng mang về nhà chia nhỏ để sử dụng và bán lại cho những người nghiện. Đến khoảng 08 giờ 00 phút ngày 22/8/2022, B đã bán cho anh Trần Văn Đức (sinh năm 1982, trú tại thôn Thành Ninh, xã Thành Lộc, huyện Hậu Lộc) 01 (một) gói ma túy loại heroin có pha ít bột màu hồng với giá 200.000 đồng. Số ma túy còn lại, B chưa kịp sử dụng và bán hết thì bị tổ công tác của Công an huyện Hậu Lộc kiểm tra, bắt quả tang như trên. Ngoài ra, B còn khai nhận: Khoảng 08 giờ 00 phút ngày 17/8/2022, B điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 36M1 - 8435 đến khu vực chợ Đò Lèn thuộc thị trấn Hà Trung, huyện Hà Trung mua của người đàn ông khoảng 40 tuổi (không biết tên, địa chỉ cụ thể) 01 (một) gói ma túy loại heroin với giá 400.000 đồng để chia nhỏ sử dụng và bán cho người nghiện. Đến khoảng 11 giờ 00 phút cùng ngày, B đã bán 02 (hai) gói ma túy loại heroin với giá 200.000 đồng cho anh Trịnh Văn Thông (sinh năm 1994, trú tại thôn Khánh Vượng, xã Lộc Sơn, huyện Hậu Lộc) tại khu vực thôn Đại Sơn, xã Đại Lộc, huyện Hậu Lộc.

Khám xét khẩn cấp nơi ở của Hoàng Văn Th ở thôn Thị Trang, xã Tiến Lộc, huyện Hậu Lộc thu giữ được 01 (một) túi nilong màu trắng viền đỏ kích thước khoảng 05 x 12 cm bên trong đựng 09 (chín) viên nén hình trụ màu hồng; 03 (ba) gói giấy màu trắng có dòng kẻ bên trong đều gói chất bột màu trắng dạng cục vụn do Th lấy ở trên nóc tủ quần áo trong phòng ngủ ra giao nộp và khai nhận là ma túy và 01 (một) điện thoại Nokia màu đen đã qua sử dụng có gắn sim số 0399.984.523 dùng để liên lạc bán ma túy.

Quá trình điều tra, Th khai nhận: Khoảng 12 giờ 00 phút ngày 21/8/2022, Th đi nhờ xe của người đi đường (không biết tên, địa chỉ cụ thể) ra khu vực cổng chợ Đò Lèn thuộc thị trấn Hà Trung, huyện Hà Trung mua của người đàn ông khoảng 35 tuổi (không biết tên, địa chỉ cụ thể) 30 (ba mươi) viên nén trong đó có 29 (hai mươi chín) viên nén hình trụ màu hồng; 01 (một) viên nén hình trụ màu xanh và 05 (năm) phân heroin với giá 3.000.000 đồng về để sử dụng và bán lại cho người nghiện. Đến khoảng 16 giờ 00 phút ngày 21/8/2022, Th đã bán cho Trương Văn B 01 (một) viên nén hình trụ màu xanh; 19 (mười chín) viên nén hình trụ màu hồng và 01 (một) gói heroin với giá 800.000 đồng, số ma túy còn lại Th để sử dụng và bán lại cho những người nghiện nhưng khi kịp chưa bán và sử dụng hết thì bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Hậu Lộc phát hiện, bắt quả tang như trên (bút lục từ số 85 đến số 102).

Tại bản kết luận giám định số 2924/KL-KTHS ngày 29/8/2022 của phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Th Hoá, kết luận:

01 (một) viên nén hình trụ màu xanh của phong bì niêm phong mặt trước ghi (Quả tang) gửi giám định là ma túy, có tổng khối lượng 0,098 g, loại Methamphetamin.

11 (mười một) viên nén hình trụ màu hồng của phong bì niêm phong mặt trước ghi (Quả tang) gửi giám định là ma túy, có tổng khối lượng 1,062g, loại Methamphetamin.

14 (mười bốn) mảnh viên nén màu hồng của phong bì niêm phong mặt trước ghi (Quả tang) gửi giám định là ma túy, có tổng khối lượng 0,588g, loại Methamphetamin.

09 (chín) viên nén hình trụ màu hồng của phong bì niêm phong mặt trước ghi (Quả tang) gửi giám định là ma túy, có tổng khối lượng 0,908g, loại Methamphetamin.

Chất bột màu trắng dạng cục vụn của phong bì niêm phong mặt trước ghi "Khám xét" gửi giám định là ma túy, có tổng khối lượng 0,873 g, loại heroine.

Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Hậu Lộc, Trương Văn B và Hoàng Văn Th đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình là phù hợp với những tài liệu chứng cứ thu thập được.

Về vật chứng của vụ án: Đối với toàn bộ số ma túy còn lại sau giám định đựng trong phong bì thư niêm phong có đóng dấu giáp lai của Phòng kỹ thuật Công an tỉnh Th Hoá; 01 (một) điện thoại Nokia 1280 màu đen đã qua sử dụng có gắn sim số 0362.890.354 và 01 (một) điện thoại Nokia màu đen đã qua sử dụng có gắn sim số 0399.984.523 là vật chứng của vụ án chuyển sang Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hậu Lộc để bảo quản chờ xử lý.

Đối với chiếc xe mô tô biển kiểm soát 36M1 - 8435 là tài sản hợp pháp của bà Phạm Thị Thơm (mẹ bị cáo Trương Văn B), Trương Văn B sử dụng đi mua ma túy bà Thơm không biết, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Hậu Lộc đã trả lại cho bà Phạm Thị Thơm.

Tại cáo trạng số 46/CT-VKSHL ngày 18/11/2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hậu Lộc đã truy tố các bị cáo Trương Văn B về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự; Hoàng Văn Th bị truy tố về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm q khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự.

Xét tính chất, mức độ, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của các bị cáo. Viện kiểm sát nhân dân huyện Hậu Lộc vẫn giữ nguyên quan điểm về việc truy tố các bị cáo với tội danh và điều luật đã viện dẫn như cáo trạng. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 2 Điều 251; Điều 17; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 BLHS: Xử phạt bị cáo Trương Văn B từ 08 năm 06 tháng đến 09 năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 24/8/2022; áp dụng điểm q khoản 2 Điều 251; Điềì 17; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 BLHS: Xử phạt bị cáo Hoàng Văn Th từ 07 năm 06 tháng đến 08 năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 24/8/2022;

Về phạt bổ sung: Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung.

Về vật chứng: Đề nghị áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 BLHS; điểm a khoản 2 Điều 106 BLTTHS, tịch thu tiêu hủy đối với vật chứng là ma túy hoàn lại sau giám định. Tịch thu sung ngân sách 01 (một) điện thoại Nokia 1280 màu đen đã qua sử dụng có gắn sim số 0362.890.354 và 01 (một) điện thoại Nokia màu đen đã qua sử dụng có gắn sim số 0399.984.523 các bị cáo sử dụng là công cụ phạm tội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Hậu Lộc, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hậu Lộc, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không ai có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.

Tại phiên tòa bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như cáo trạng truy tố. Xét lời nhận tội của các bị cáo phù hợp với các tài liệu chứng cứ, vật chứng có trong hồ sơ vụ án đã thu thập được. Hội đồng xét xử đủ cơ sở để kết luận:

Khoảng 06 giờ 15 phút ngày 24/8/2022, tại khu vực thôn Thành Tây, xã Thành Lộc, huyện Hậu Lộc. Trương Văn B đang tàng trữ 1,748 g ma túy, loại Methamphetamin mục đích để sử dụng và bán cho người nghiện thì bị tổ công tác của Công an huyện Hậu Lộc kiểm tra, bắt quả tang. Bản thân Trương Văn B đã hai lần bán ma túy cho anh Trịnh Văn Thông vào khoảng 11 giờ 00 phút ngày 17/8/2022 tại khu vực thôn Đại Sơn, xã Đại Lộc, huyện Hậu Lộc và anh Trần Văn Đức vào khoảng 08 giờ 00 phút ngày 22/8/2022 tại khu vực thôn Thành Ninh, xã Thành Lộc, huyện Hậu Lộc. Hành vi của bị cáo Trương Văn B đã phạm vào tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự;

Hoàng Văn Th đã tái phạm lại tiếp tục bán ma túy cho Trương Văn B. Khám xét nơi ở của Hoàng Văn Th thu giữ được 0,908g ma túy loại Methamphetamin và 0,873g ma túy loại heroine mục đích để sử dụng và bán lại cho người nghiện. Hoàng Văn Th đã phạm vào tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm q khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự.

Cáo trạng số 46/CT-VKSHL ngày 18/11/2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hậu Lộc truy tố các bị cáo Trương Văn B và Hoàng Văn Th về tội: “Mua bán trái phép chất ma túy” là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Các bị cáo Trương Văn B và Hoàng Văn Th là công dân có sức khỏe nhưng không chăm lo làm ăn lương thiện mà sa vào con đường nghiện ngập, vì muốn có ma túy để sử dụng đáp ứng nhu cầu bản thân, các bị cáo mua ma túy tàng trữ để sử dụng và có ai hỏi mua thì bán lại để lấy tiền tiếp tục mua ma túy sử dụng. Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý chất ma túy của nhà nước, gây hậu quả nghiêm trọng đến an ninh trật tự và an toàn xã hội. Biết rõ tác hại của ma túy và hoàn toàn nhận thức hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vẫn thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp. Vì vậy các bị cáo phải chịu hoàn toàn trách nhiệm về hậu quả do hành vi của mình gây ra. Cần phải xử lý nghiêm làm bài học răn đe giáo dục và phòng ngừa chung.

Trong vụ án này, Trương Văn B và Hoàng Văn Th đều là những người cố ý cùng thực hiện một tội phạm nhưng không có tổ chức nên là đồng phạm giản đơn, có vai trò ngang nhau. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội, tỏ thái độ ăn năn hối cải nên đều được hưởng tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS. Các bị cáo đều không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Bị cáo Trương Văn B có nhân thân xấu về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy nên hình phạt áp dụng của bị cáo cao hơn đối với Hoàng Văn Th khi quyết định hình phạt.

Về hình phạt bổ sung: Các bị cáo không có công việc làm, thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung.

Về vật chứng: Toàn bộ số ma túy hoàn lại sau giám định là chất nhà nước cấm lưu hành nên tịch thu tiêu hủy; 01 (một) điện thoại Nokia 1280 màu đen đã qua sử dụng có gắn sim số 0362.890.354 và 01 (một) điện thoại Nokia màu đen đã qua sử dụng có gắn sim số 0399.984.523 các bị cáo sử dụng là công cụ phạm tội nên tịch thu sung ngân sách nhà nước.

Những vấn đề liên quan: Về nguồn gốc số Heroine: Quá trình điều tra không biết rõ họ tên và địa chỉ, không rõ đặc điểm nhận dạng của người đã bán ma túy cho cho các bị cáo nên khi nào làm rõ xử lý sau.

Đối với anh Trịnh Văn Thông và anh Trần Văn Đức là những người mua ma túy của Trương Văn B và đã sử dụng hết, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Hậu Lộc đã ra quyết định xử phạt hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy là đúng quy định.

Đối với chiếc xe mô tô biển kiểm soát 36M1 - 8435 là tài sản hợp pháp của bà Phạm Thị Thơm (sinh năm 1973, trú tại thôn Thành Ninh, xã Thành Lộc, huyện Hậu Lộc, mẹ bị cáo Trương Văn B), Trương Văn B sử dụng đi mua ma túy bà Thơm không biết, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Hậu Lộc đã trả lại cho chủ sở hữu là đúng quy định.

Về án phí: Các bị cáo phải nộp án phí HSST theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

* Căn cứ: - Điểm b khoản 2 Điều 251; Điều 17; Điều 50; Điều 58; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; điểm a, c khoản 1 Điều 47 BLHS; điểm a khoản 2 Điều 106; khoản 2 Điều 136 BLTTHS; Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/ UBTVQH ngày 30/12/2016 về án phí, lệ phí Tòa án đối với Trương Văn B.

- Điểm q khoản 2 Điều 251; Điều 17; Điều 50; Điều 58; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; điểm a, c khoản 1 Điều 47 BLHS; điểm a khoản 2 Điều 106; khoản 2 Điều 136 BLTTHS; Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 về án phí, lệ phí Tòa án đối với Hoàng Văn Th.

* Tuyên bố: Các bị cáo Trương Văn B; Hoàng Văn Th phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Trương Văn B 08 (tám) năm 06 (sáu) tháng tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 24/8/2022.

Xử phạt bị cáo Hoàng Văn Th 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 24/8/2022.

* Về vật chứng: Tịch thu tiêu hủy toàn bộ số ma túy hoàn lại được niêm phong bởi Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Th Hóa hoàn lại; Tịch thu sung ngân sách 01 (một) điện thoại Nokia 1280 màu đen đã qua sử dụng có gắn sim số 0362.890.354 và 01 (một) điện thoại Nokia màu đen đã qua sử dụng có gắn sim số 0399.984.523 các bị cáo sử dụng là công cụ phạm tội theo bản án theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 18/11/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hậu Lộc.

*Về án phí: Bị cáo Trương Văn B và Hoàng văn Th mỗi bị cáo phải nộp 200.000đồng án phí HSST.

*Về quyền kháng cáo: Các bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hợp lệ hoặc bản án được niêm yết tại địa phương nơi cư trú.

Cỡ chữ