- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Vi Huân - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Vi H phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔNG HƯNG TỈNH THÁI BÌNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 44/2022/HS-ST Ngày 08/7/2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔNG HƯNG, TỈNH THÁI BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Kiên Trung.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Duy Quyến.
2. Ông Nguyễn Xuân Thanh.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Quỳnh Anh- Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình.
- Đại diệnViện kiểm sát nhân dân huyện Đông Hưng tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Yến- Kiểm sát viên.
Ngày 08 tháng 7 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 33/2022/TLST- HS ngày 26 tháng 5 năm 2022, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 45/2022/QĐXXST- HS ngày15 tháng 6 năm 2022 và Thông báo thay đổi thời gian mở phiên tòa số 01/2022/TB-TA ngày 24 tháng 6 năm 2022, đối với bị cáo:
Nguyễn Vi H, sinh ngày 12/6/1974 tại Thái Bình; nơi đăng ký HKTT: Thôn 5, xã ĐL, huyện ĐH, tỉnh TB; nơi cư trú: Thôn KC, xã AC, huyện ĐH, tỉnh TB; trình độ văn hoá (học vấn): 4/12; nghề nghiệp: Lao động tự do; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch:Việt Nam; con ông Nguyễn Vi P, sinh năm 1930 và bà Vương Thị Đ, sinh năm 1925; có vợ là Vương Thị M, sinh năm 1982 và có 03 con, con lớn nhất sinh năm 1998, con nhỏ nhất sinh năm 2008; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Năm 1995 tham gia nghĩa vụ Quân sự đến năm 1997 xuất ngũ về địa phương; bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 18/01/2022 (có mặt tại phiên tòa).
* Bị hại: Ông Nguyễn Đắc H1, sinh năm 1970; nơi cư trú: Thôn KN, xã LG, huyện ĐH, tỉnh TB (đã chết).
* Đại diện hợp pháp cho bị hại:
- Bà Đoàn Thị X, sinh năm 1977 (là vợ ông Nguyễn Đắc H1); nơi cư trú: Thôn KN, xã LG, huyện ĐH, tỉnh TB (có mặt tại phiên tòa).
Người đại diện theo ủy quyền của bà Đoàn Thị X: Bà Nguyễn Thị H2, sinh năm 1965; nơi cư trú: Thôn ĐL, xã ĐV, huyện ĐH, tỉnh TB (có mặt tại phiên tòa).
(Bà Đoàn Thị X ủy quyền trực tiếp bằng miệng tại phiên tòa cho bà Nguyễn Thị H2 tham gia tố tụng)
- Chị Nguyễn Ánh N, sinh năm 2003 (là con của ông Nguyễn Đắc H1); nơi cư trú: Thôn KN, xã LG, huyện ĐH, tỉnh TB (vắng mặt tại phiên tòa).
Người đại diện theo ủy quyền của chị Nguyễn Ánh N: Bà Đoàn Thị X, sinh năm 1977 (là mẹ đẻ của chị Nguyễn Ánh N); nơi cư trú: Thôn KN, xã LG, huyện ĐH, tỉnh TB (có mặt tại phiên tòa).
(Văn bản ủy quyền đề ngày 20/01/2022 của chị Nguyễn Ánh N cho bà Đoàn Thị X)
* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
- Anh Nguyễn Đắc Minh H3, sinh ngày 15/02/2005 (là con của ông Nguyễn Đắc H1); nơi cư trú: Thôn KN, xã LG, huyện ĐH, tỉnh TB (vắng mặt tại phiên tòa).
- Anh Nguyễn Đắc B, sinh ngày 24/10/2010 (là con của ông Nguyễn Đắc H1); nơi cư trú: Thôn KN, xã LG, huyện ĐH, tỉnh TB (vắng mặt tại phiên tòa).
Người đại diện hợp pháp của anh Nguyễn Đắc Minh H3 và anh Nguyễn Đắc B: Bà Đoàn Thị X, sinh năm 1977 (là mẹ đẻ của anh Nguyễn Đắc Minh H3 và Nguyễn Đắc B); nơi cư trú: Thôn KN, xã LG, huyện ĐH, tỉnh TB (có mặt tại phiên tòa).
(Bà Đoàn Thị X ủy quyền trực tiếp bằng miệng tại phiên tòa cho bà Nguyễn Thị H2 tham gia tố tụng với tư cách là đại diện hợp pháp cho anh Nguyễn Đắc Minh H3 và anh Nguyễn Đắc B).
- Chị Vương Thị M, sinh năm 1982; nơi cư trú: Thôn KC, xã AC, huyện ĐH, tỉnh TB (có mặt tại phiên tòa).
* Người làm chứng:
- Chị Vương Thị M, sinh năm 1982; nơi cư trú: Thôn KC, xã AC, huyện ĐH, tỉnh TB (có mặt tại phiên tòa).
- Ông Nguyễn Vi M1, sinh năm 1976; nơi cư trú: Thôn 5, xã ĐL, huyện ĐH, tỉnh TB (có mặt tại phiên tòa).
- Ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1973; nơi cư trú: Khu phố LS, thị trấn LS, huyện TX, tỉnh TH (vắng mặt tại phiên tòa).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Vi H có giấy phép lái xe hạng B2 do Sở Giao thông vận tải thành phố HP cấp ngày 31/7/2013. Khoảng 00 giờ 30 phút ngày 25 tháng 10 năm 2021, H điều khiển xe ô tô nhãn hiệu Hyundai- Poster II, biển kiểm soát 17C-053.04, loại xe tải đông lạnh, trọng tải 01 tấn, sơn màu trắng từ nhà ở xã AC chở hàng hải sản của gia đình đến chợ đêm xã ĐL1 để bán hàng. Cùng đi với H có chị Vương Thị M là vợ H ngồi ở ghế phụ. H điều khiển xe ô tô đi ở giữa đường với tốc độ khoảng 40 km/h theo chiều xã ĐL đi xã LG, khi đi đến thôn KN, xã LG thì xảy ra tai nạn. Lúc này, trời tối, tạnh ráo, mật độ giao thông vắng, có ánh đèn điện của nhà dân chiếu ra đường. Đoạn đường được rải đá nhựa tương đối bằng phẳng, mặt đường rộng 5,40 mét, hai bên lề đường là nền bê tông rộng 0,9 mét. Hai bên đường là khu dân cư. Tiếp giáp với lề đường bên trái theo chiều đi của H là cổng đi vào nhà ông Nguyễn Đắc H1. Buổi tối ngày 24/10/2021, trước thời điểm xảy ra tai nạn, Ông H1 cùng vợ là bà Đoàn Thị X rải lúa mới gặt về trên mặt đường trước cổng nhà để các phương tiện giao thông đi qua, khi thóc rụng thì giũ rơm thu dọn thóc vào lề đường. Đến khoảng 23 giờ 30 phút cùng ngày, bà X vào nhà đi nghỉ trước, chỉ còn một mình ông H1 tiếp tục làm việc. Khi H điều khiển xe ô tô đi tới đoạn đường này, H nhìn thấy trên mặt đường có nhiều rơm rạ mới gặt trải đều và ở lề đường bên trái theo chiều đi có 01 đống thóc cao khoảng 0,2 mét, đổ dài theo chiều dọc của đường. H vẫn điều khiển xe đi ở giữa đường và giữ nguyên tốc độ. Khi H điều khiển xe ô tô đi qua đống thóc khoảng 03 mét thì H và chị M phát hiện thấy ở bên trái đường theo chiều đi có 01 người đang ở tư thế thấp, nhưng không quan sát rõ đặc điểm và vị trí, sau xác định là ông Nguyễn Đắc H1. Lúc này, đầu xe ô tô do H điều khiển chỉ còn cách ông H1 khoảng từ 03 đến 04 mét. H liền đạp phanh để giảm tốc độ và đánh lái sang bên phải đường để tránh, nhưng không kịp. Phần đầu bên trái ba đờ sốc và phần đầu thanh sắt si ở bên trái xe ô tô đã va chạm vào người, vào vùng chẩm trái ông H1. Sau đó bánh trước bên trái xe ô tô do H điều khiển đã đè lên phần ngực bên trái và cánh tay trái của ông H1. Lúc này, nghe thấy tiếng “Kịch” thì chị M hỏi: “Cái gì kịch đấy”. Còn H biết rõ đã gây tai nạn cho ông H1, nhưng vẫn nói với vợ là: chắc rơm cuộn lên, hàng đổ xuống. Sau đó, H tiếp tục điều khiển xe ô tô đi về phía trước, cách vị trí ông H1 nằm khoảng 05 mét, dừng xe lại trong khoảng thời gian rất ngắn, nhưng không xuống xe để kiểm tra mà rời khỏi hiện trường để trốn tránh trách nhiệm. H đến chợ đêm xã ĐL1 cùng vợ bán hàng từ khoảng 01 giờ đến khoảng 05 giờ 30 phút cùng ngày thì điều khiển xe ô tô chở vợ quay trở về nhà theo lối cũ. Khoảng 07 giờ cùng ngày, H tiếp tục điều khiển xe ô tô cùng vợ từ nhà ra Quốc lộ 10 đến chợ MC thuộc quận NQ, thành phố HQ để mua hàng hải sản, đến khoảng 12 giờ 30 phút cùng ngày thì về đến nhà. Quãng đường mà H đã điều khiển xe đi lấy hàng quay về nhà khoảng 120 km. Quá trình rà soát các camera an ninh của Ủy ban nhân dân xã LG và các hộ dân cư ở trục đường xảy ra tai nạn, Cơ quan điều tra phát hiện trong khoảng thời gian xảy ra tai nạn, xe ô tô biển kiểm soát 17C-053.04, loại xe tải đông lạnh đi trên đường theo hướng ĐL đi LG nên cùng ngày, đã triệu tập H đến Cơ quan điều tra làm việc và quản lý xe ô tô trên để điều tra.
Quá trình điều tra, H đã khai nhận điều khiển xe ô tô gây tai nạn làm ông H1 chết, nhưng H cho rằng chỉ sau khi tham gia khám nghiệm phương tiện, được thông báo về kết luận giám định của Viện khoa học hình sự thì H mới xác định được là xe ô tô H điều khiển đã va chạm với ông H1. Đến giai đoạn truy tố, H đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như đã nêu trên.
- Biên bản khám nghiệm hiện trường; sơ đồ hiện trường và bản ảnh hiện trường lập hồi 03 giờ 40 phút ngày 25/10/2021: Hiện trường được tính theo chiều LG đi ĐL; lấy mốc là trụ cổng nhà ông H1 ở bên phải đường theo chiều LG đi ĐL làm chuẩn. Tại hiện trường, ông H1 nằm ở tư thế ngửa, hai tay xuôi với thân, đầu hướng về xã ĐL và hơi xiên sang trái đường, tâm đỉnh đầu cách mép đường bên phải 2m40, cách điểm mốc vụ tai nạn 1m25; gót chân trái nạn nhân cách mép đường bên phải 1m40, gót chân phải cách mép đường bên phải 1m60. Hiện trường để lại 01 đôi dép, dép trái cách mép đường bên phải 1m00, dép phải cách mép đường bên phải 1m33, cách dép trái 0m60; 01 chiếc điện thoại di động của nạn nhân cách mép đường bên phải 1m15, cách mốc vụ tai nạn 2m20; dấu vết máu có kích thước 0m90 x 0m15, tâm vết máu cách mép đường bên phải đo 2m75, cách đỉnh đầu nạn nhân 0m90. Tiến hành thu dọn sạch rơm rạ trên mặt đường phát hiện có 01 vết trượt mặt đường đá nhựa ký hiệu T3 có kích thước 2m30 x 0m15, đầu vết cách mép đường bên phải 3m64, cách mốc của vụ tai nạn 3m64, cuối vết cách mép đường bên phải 3m85, vết có chiều ĐL đi LG và hơi xiên vào bên phải đường, bề mặt vết có bám dính tạp chất màu xanh và mảnh vụn rơm rạ.
- Biên bản khám nghiệm phương tiện lập hồi 09 giờ ngày 26/10/2021: Xe ô tô BKS 17C-053.04, một số dấu vết chính như sau: Mặt trước cạnh dưới, đầu bên trái ba đờ sốc, cách vị trí cạnh ngoài bên trái xe 20cm có dấu vết chùi quệt trượt mất mới đất, cát mới hướng từ trên xuống dưới, từ trước về sau bề mặt in hình các đường song song nhỏ đều. Vị trí cao nhất và thấp nhất của vết đo cách đất 39 cm và 34 cm; Mặt trước dưới đầu trước sắt xi bên trái cách cạnh trước ba đờ sốc 16cm và cạnh ngoài bên trái 35cm có dấu vết trượt, miết mất đất cát mới hướng từ trước về sau, từ trên xuống dưới, bề mặt bám dính chất màu nâu (nghi là máu) và chất dạng tế bào da cơ đo (11x2)cm. Đầu sắt xi có dạng hình vuông, cạnh đo dày 0,5cm, trong ống sắt xi có bám dính chất màu nâu đỏ nghi máu, dạng bắn, hướng từ trước về sau. Vị trí cao nhất và thấp nhất của vết cách đất lần lượt 41 cm và 33,3cm; Mặt trước trong đầu bên trái cầu trục 1, vị trí tiếp giáp với điểm định vị đầu bào bánh xe, có dấu vết bám dính chất màu nâu đỏ dạng bắn (nghi là máu) hướng từ phải sang trái, từ trước về sau; Má trong lốp bánh trước bên trái trục 1, vị trí tương tưng chữ “PR” có dòng chữ “VANPRO” có dấu vết bám dính chất màu nâu đỏ dạng bắn (nghi là máu) hướng cạnh vành ra mặt lăn và ngược chiều chuyển động tiến của bánh xe...
- Biên bản khám nghiệm tử thi hồi 05 giờ 30 phút ngày 25/10/2021; Bản ảnh tử thi thể hiện: Trên người nạn nhân có một số dấu vết chính: Vùng chẩm trái có 02 (hai) vết xây xát da, 01 (một) vết rách da bầm máu (7 x 5)cm: Trong đó: cách đường chân tóc gáy 02cm, có vết xây sát da nằm ngang đo (3,5 x 0,5)cm; Cách đường chân tóc gáy 5,5cm có vết rách da nằm ngang(3,5 x 0,7)cm, khi khép mép da vết dài 4,8cm, bờ mép tương đối sắc gọn, đáy vết thương rách, sâu sát xương, có cầu tổ chức; cách đường chân tóc gáy 3 cm có vết rách da nằm dọc(2x1)cm; Vùng ngực bên trái có nhiều vết bầm máu trên diện (22 x 20)cm, trong đó cách dưới núm vú 4cm có vết bầm máu hình dạng gập khúc (9 x 0,4)cm, cạnh đường gấp khúc đo(2x 0,4)cm, tâm vết cách gót 114cm; 1/3 trên mặt trước cánh tay trái có vết xây xát da, bầm máu(2,5 x 2,5)cm. Mặt trước ngoài khủy tay trái và 1/3 trên mặt trước ngoài cẳng tay có 02 vết bầm máu dạng gấp khúc nằm song song, cách nhau 3cm trên diện (10 x 9)cm; 1/3 mặt trong cánh tay trái và mặt trong khuỷu tay có nhiều vết xây sát da, rách da(17 x 9)cm, trong đó vết rách da bờ mép tương đối gọn, lộ mỏm khủy; Vùng hông bên trái và mặt ngoài mông trái có vết xây xát da, bầm máu (18 x 12)cm, tâm vết cách gót 86cm. Bên trong: Rạch da đầu vùng chẩm trái thấy: Tụ máu dưới da vùng chẩm trái. Vỡ xương sọ vung chẩm trái, xương vỡ lún vào trong, qua khe hở máu còn đang chảy ra; Gẫy xương sườn 2, 3, 4,5,6 khung trước bên trái, gẫy 1/3 xương cánh tay trái.
- Bản kết luận giám định pháp y về tử thi số 254/KLGĐTT-PC09 ngày 08/11/2021 của Phòng Kỹ thuật Hình sự Công an tỉnh Thái Bình kết luận: Dấu hiệu chính: Đa chấn thương vùng đầu, ngực và toàn thân do tai nạn giao thông làm vỡ xương sọ vùng chẩm trái, chảy máu não; gãy 5 xương sườn bên trái; gãy xương cánh tay trái. Nguyên nhân chết: Nguyễn Đắc H1 chết do chấn thương sọ não và sốc đa chấn thương.
- Kết luận giám định số 7981/C09-TT3 ngày 30/11/2021 của Viện khoa học hình sự Bộ Công an: 04 mẫu thu tại các bộ phận trên xe ô tô 17C-053.04 bao gồm: mặt trước ngoài ốp kim loại bộ phận dẫn lái bên trái ký hiệu mẫu số 1, đầu trước phía dưới thanh sắt bên trái ký hiệu mẫu số 2, mặt trước dưới ốp nhựa chắn bùn phía sau bánh trước bên trái ký hiệu mẫu số 3, mặt trong bánh lốp trước 1 bên trái ký hiệu mẫu số 4 đều là máu người và đều là máu của Nguyễn Đắc H1.
- Công văn số 301/CV-PC09 ngày 21/12/2021 về việc phối hợp điều tra của Phòng Kỹ thuật hình sự, đánh giá như sau: Toàn bộ dấu vết để lại trên người nạn nhân Nguyễn Đắc H1 được hình thành trước khi chết, trong đó: Các dấu vết tại vùng đầu, mặt, lưng và hông được hình thành do va đập với vật tày cứng có cạnh; Các dấu vết tại vùng ngực bên trái và tay trái do vật tày cứng chèn ép, trượt miết gây nên; Các dấu vết in hằn dạng hình các đường ống gấp khúc trên người nạn nhân Nguyễn Đắc H1 tại tay trái và vùng ngực bên trái có đặc điểm giống hoa vân của lốp xe ô tô BKS 17C-053.04; Nguyên nhân chết của ông Nguyễn Đắc H1 là do vật tày cứng có cạnh va đập làm vỡ xương sọ vùng chẩm trái, chảy máu não và vật tày cứng chèn ép, trượt miết làm gãy 1/3 giữa xương cánh tay trái, gãy 05 xương sườn bên trái. Vị trí va chạm tương ứng với các dấu vết tại mặt trước dưới đầu trước sắt si bên trái, cụm kim loại định vị kết nối vô lăng và thanh dẫn lái bên trái gầm đầu xe, khung kim loại hình hộp định vị đầu bên trái thanh cân bằng phía dưới gầm đầu xe và bánh trước bên trái xe ô tô BKS 17C – 053.04; Tư thế của nạn nhân khi xảy ra va chạm ở tư thế thấp, tương ứng với khoảng cách vị trí cao nhất của dấu vết trên xe ô tô đo cách đất 41cm.
- Biên bản trích sao dữ liệu hình ảnh tại các đầu thu của camera của UBND xã LG; của gia đình ông Phạm Huy M2 và gia đình ông Nguyễn Ngọc T1 đều trú tại thôn KN, xã LG.
- Bản kết luận giám định số 137 ngày 28/12/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Bình kết luận, không phát hiện thấy dấu hiệu cắt, ghép, chỉnh sửa nội dung hình ảnh của 05 tệp tin video lưu trong 03 USB gửi giám định và phụ lục các hình ảnh kèm theo.
Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đông Hưng đã quản lý 01 xe ô tô nhãn hiệu Hyundai porter II, biển kiểm soát 17C-053.04 theo thủ tục vật chứng; 01 mảnh nhựa thu tại hiện trường, 01 giấy phép lái xe ô tô hạng B2, 01 đăng ký xe ô tô biển kiểm soát 17C-053.04, Giấy chứng nhận kiểm định xe BKS 17C-053.04 đều mang tên Nguyễn Vi H và 03 USB Cơ quan điều tra chuyển theo hồ sơ vụ án. Ngoài ra, đối với tư trang đã thu của ông Nguyễn Đắc H1 gồm: 01 bộ quần áo cùng với chiếc thắt lưng da ông H1 mặc khi xảy ra tai nạn; 01 chiếc điện thoại di động và đôi dép thu tại hiện trường. Cơ quan điều tra đã trả lại ngay cho gia đình nạn nhân sau khi kiểm tra các dấu vết trên quần áo và tính hợp pháp các tài sản đó là của ông H1.
Tại phiên tòa:
- Bị cáo H thành khẩn khai nhận hành vi vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ của bản thân làm ông Nguyễn Đắc H1 bị chết như cáo trạng đã truy tố. Bị cáo xác định, bị cáo biết được xe ô tô do bị cáo điều khiển va chạm với cơ thể của ông Nguyễn Đắc H1 ngay khi xẩy ra tai nạn và bị cáo đã dừng xe lại nhưng không xuống xe để kiểm tra, mà bỏ mặc nạn nhân nằm dưới đường, rời khỏi hiện trường, không nói sự thật cho vợ biết. Trong quá trình điều tra, bị cáo khai báo quanh co là nhằm để trốn tránh trách nhiệm hình sự của mình. Bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Bị cáo đã tác động để gia đình tự nguyện thỏa thuận bồi thường xong toàn bộ thiệt hại cho gia đình bị hại với số tiền là 365.000.000 đồng. Bị cáo xin lỗi gia đình bị hại về hành vi bị cáo đã gây ra cho bị hại. Bị cáo đề nghị được nhận lại chiếc xe ô tô nhãn hiệu Hyundai porter II, biển kiểm soát 17C-053.04 (là tài sản chung của vợ chồng bị cáo); Giấy phép lái xe ô tô cùng Đăng ký xe và Giấy chứng nhận kiểm định của chiếc xe ô tô trên để tiếp tục hành nghề lái xe.
- Vì lý do sức khỏe nên Bà Đoàn Thị X xin phép không trình bày tại phiên tòa. Lời khai của bà X tại giai đoạn điều tra và truy tố thể hiện: Buổi tối ngày 24/10/2021, khi ăn cơm ông H1 không uống rượu bia gì, sức khỏe, tinh thần bình thường. Ăn cơm xong, ông H1 cùng bà X giũ lúa ra trục đường ngay trước cửa nhà cho xe qua lại để thóc rụng khỏi rơm. Khoảng 23 giờ 30 cùng ngày bà X vào nhà và đi ngủ trước. Đến khoảng 03 giờ sáng ngày hôm sau, bà X dậy nghĩ ông H1 vẫn giũ lúa ngoài đường nên đi nằm tiếp, khi đó thấy có tiếng người ngoài đường chạy ra xem thì thấy ông H1 nằm chết trên đường. Ngày 27/4/2022, vợ bị cáo H đã tự nguyện bồi thường xong toàn bộ thiệt hại về tính mạng của ông H1 số tiền 365.000.000 đồng; gia đình bà đã nhận đủ số tiền trên, không có yêu cầu bồi thường gì thêm và bà thay mặt gia đình xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo H.
- Bà Nguyễn Thị H2 là đại diện theo ủy quyền của bà Đoàn Thị X trình bày: Ông Nguyễn Đắc H1 là em trai ruột của bà. Việc ông H1 rắc lúa và phơi rơm rạ dưới lòng đường giao thông là vi phạm Luật giao thông đường bộ, bà cũng đã từng khuyên các em không nên sử dụng lòng, lề đường phơi rơm rạ. Song, việc bị cáo H khai, bị cáo điều khiển xe ô tô đi với tốc độ 40km/h là không phù hợp, vì nếu đi với tốc độ trên thì khi nhìn thấy người trên đường bị cáo sẽ dừng xe lại được ngay, kể cả ở khoảng cách xe ô tô cách vị trí người phía trước từ 03 đến 05m; bà cũng là người đã học lái xe ô tô và hiện đang sử dụng xe ô tô của gia đình nên xác định tốc độ mà bị cáo đi là rất nhanh, phải trên 60km/h mới dẫn tới tai nạn cho ông H1. Gia đình bà bức xúc là do thái độ của vợ bị cáo và gia đình vợ bị cáo, khi đến gia đình bị hại đặt vấn đề bồi thường, đã có lời nói làm cho gia đình bị hại chưa hài lòng. Tuy nhiên, người đã mất, gia đình đã nhận số tiền bồi thường dân sự 365.000.000đồng và không có yêu cầu bồi thường gì thêm.
Đối với đơn của gia đình bị hại đề ngày 28/4/2022, xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo H, qua trao đổi trực tiếp với bà Đoàn Thị X tại phiên tòa thì bà và bà X vẫn giữ nguyên nội dung đề nghị giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo H.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và là người làm chứng; chị Vương Thị M trình bày: Khoảng 00 giờ 30 phút ngày 25/10/2021, H điều khiển xe ô tônhãn hiệu Hyundai-Poster II, biển kiểm soát 17C-053.04, còn chị ngồi ở ghế phụ và đi theo hướng đường liên xã để đến chợ đêm ở xã ĐL1 bán hải sản. H điều khiển xe ô tô đi với tốc độ khoảng 30-40km/h và đi ở phần đường bên phải theo chiều ĐL đi LG, khi đi đến địa phận xã LG thấy có rơm rạ rải mỏng trên đường. Quan sát phía trước thấy có một đống thóc ở bên trái đường theo chiều đi. Đi qua đống thóc thì phát hiện có một người mặc áo sọc, kẻ ngang, nằm ngửa trên đường cách đầu xe ô tô khoảng 3 đến 4 mét nên chị hô lên: “Có người nằm kìa”. H liền đạp phanh gấp và đánh lái sang bên phải để tránh, chị thấy âm thanh “Kịch” một cái, chị hỏi: “Cái gì kịch đấy”, H nói: “Đi rơm nhiều phanh lại, hàng đổ xuống”. H điều khiển xe đi qua vị trí người nằm khoảng 3 đến 4 mét thì dừng xe lại, xe vẫn nổ máy nhưng chưa đến 1 phút rồi tiếp tục điều khiển xe đi đến chợ hải sản. Tại thời điểm đó chị không biết H gây tai nạn cho ông H1. Sau khi khám nghiệm phương tiện, được thông báo về kết luận giám định của Viện khoa học hình sự chị mới biết H gây tai nạn cho ông H1. H đã tác động tới chị dùng tiền là tài sản chung của vợ chồng và vay mượn thêm tự nguyện bồi thường toàn bộ thiệt hại về tính mạng cho ông H1 số tiền 365.000.000 đồng. Chiếc xe ô tônhãn hiệu Hyundai-Poster II, biển kiểm soát 17C-053.04 là tài sản chung của chị và H; chị đề nghị Hội đồng xét xử trả lại xe ô tô trên cho chị và H. Chị xin lỗi gia đình bị hại về những gì mà bị cáo H (chồng chị) đã gây ra cho bị hại ông Nguyễn Đắc H1.
Lời khai của người làm chứng là ông Nguyễn Vi M1 về thời điểm ông Nguyễn Đức H1 còn sống thể hiện: Khoảng 23 giờ 30 ngày 24/10/2021, ông điều khiển xe ô tô nhãn hiệu Hyundai, biển kiểm soát 17C-1125 từ nhà ở thôn 5, xã ĐL theo đường trục xã ĐH 45 đem hải sản đến chợ CN bán. Khoảng 23 giờ 45 phút ngày 24/10/2021 thì đi đến khu vực dân cư xã LG, ông nhìn thấy một người đàn ông cách xe ông khoảng 20 đến 25m đứng ở mép đường chỗ bóng điện, cạnh nhà ở, mặt đường có rơm và sát tường có 01 cái bạt. Ông dừng xe lại khoảng 10 giây thì thấy người này giơ tay ra hiệu cho tiến về phía trước nên ông tiếp tục điều khiển xe đi bán hàng.
Lời khai của người làm chứng là ông Nguyễn Văn T phát hiện ông Nguyễn Đắc H1 nằm chết trên đường, thể hiện: Rạng sáng ngày 25/10/2021, ông điều khiển xe ô tô biển kiểm soát 36C-104.30 từ nhà ở thị trấn LS, huyện TX, TH chở luồng, tre để giao cho cơ sở kinh doanh ở khu vực ngã tư xã Mê L. Khoảng 02 giờ 45 phút cùng ngày, xe đi đến xã LG, cách ngã ba xã LG khoảng 100 mét thì phát hiện phía trước cách đầu xe khoảng 15 đến 20 mét có 01 người đàn ông đang nằm trên đường ở phần đường bên phải theo chiều đi, xung quanh có rơm và lúa, ông dừng xe lại và xuống kiểm tra thì phát hiện người đàn ông bất động hoàn toàn, lúc đó cũng có 01 xe ô tải đi đến, người lái xe này xuống xe và đi vào nhà bên cạnh gọi người ra giúp.
Tại bản cáo trạng số 35/CT- VKSĐH ngày 25/5/2022 Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình truy tố bị cáo Nguyễn Vi Hvề tội: “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm c khoản 2 Điều 260 Bộ luật Hình sự.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Hưng giữ quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo H theo toàn bộ nội dung bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:
- Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 260; điểmb,s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 50; Điều 54 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo H từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù; thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam 18/01/2022.
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo H.
- Về trách nhiệm dân sự: Giữa các bên đã thỏa thuận và thực hiện xong việc bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng. Việc thỏa thuận là hợp pháp nên Hội đồng xét xử cần chấp nhận.
- Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 48 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự đề nghị Hội đồng xét xử: Trả lại cho chị Vương Thị M 01 xe ô tô nhãn hiệu Hyundai porter II, biển kiểm soát 17C-053.04; 01 đăng ký xe ô tô biển kiểm soát 17C-053.04; Giấy chứng nhận kiểm định xe BKS 17C-053.04. Trả lại bị cáo H 01 giấy phép lái xe ô tô hạng B2. Tịch thu tiêu hủy tấm mảnh nhựa màu trắng không liên quan đến vụ án. Ngoài ra còn đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận việc Cơ quan điều tra đã trả trả lại quần áo và các tư trang khác cho ông H1 trong quá trình giải quyết vụ án.
- Về án phí: Bị cáo H phải chịu án phí hình sự theo quy định của pháp luật.
Bị cáo Nguyễn Vi H không tranh luận gì với lời luận tội của Kiểm sát viên.
Đại diện hợp pháp của bị hại là bà Đoàn Thị X trực tiếp trình bày ý kiến: Gia đình bị cáo đã thỏa thuận bồi thường dân sự xong với gia đình bị hại, gia đình bị hại không yêu cầu bị cáo bồi thường gì thêm; gia đình bị hại xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Bà Nguyễn Thị H2 không tranh luận gì.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là chị Vương Thị M không tranh luận gì.
Bị cáo H nói lời sau cùng: Bị cáo rất ân hận về hành vi phạm tội của bản thân, một lần nữa bị cáo xin lỗi gia đình bị hại. Bị cáo mong Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt để bị cáo sớm được trở về với gia đình và xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
* Về tố tụng:
. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Đông Hưng, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Hưng, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục, quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, những người tham gia tố tụng không có ý kiến hay khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
. Tại phần thủ tục bắt đầu phiên tòa, bà Nguyễn Thị H2 trình bày, chị Nguyễn Ánh N vắng mặt tại phiên tòa đã ủy quyền bằng miệng cho bà đến tham gia tố tụng tại phiên tòa: Xét thấy, bà H2 không đưa ra được căn cứ gì để chứng minh việc ủy quyền bằng miệng cũng như nội dung ủy quyền miệng của chị N cho bà. Mặt khác, văn bản ủy quyền đề ngày 20/01/2022 của chị Nguyễn Ánh N cho bà Đoàn Thị X chưa bị thay thế bằng văn bản khác và tại phiên tòa bà X vẫn nhận ủy quyền của chị N, nên đương nhiên văn bản ủy quyền trên vẫn có giá trị về mặt pháp lý. Do vậy, việc ủy quyền bằng miệng của chị N cho bà H2 không được Hội đồng xét xử chấp nhận mà vẫn tiếp tục xét xử theo quy định tại Điều 292 Bộ luật tố tụng hình sự.
Bà X vì lý do sức khỏe nên đã ủy quyền trực tiếp, bằng miệng tại phiên tòa cho bà H2 tham gia tố tụng tại phiên tòa. Việc ủy quyền trên là hợp pháp nên Hội đồng xét xử chấp nhận; vì vậy, bà H2 tham gia tố tụng tại phiên tòa với tư cách là đại diện theo ủy quyền của bà X, đồng thời là đại diện hợp pháp cho anh Nguyễn Đắc Minh H3 và anh Nguyễn Đắc B.
* Về nội dung:
. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với nội dung bản cáo trạng và lời khai của những người tham gia tố tụng khác. Ngoài ra còn được chứng minh bằng Biên bản khám nghiệm hiện trường; sơ đồ hiện trường và bản ảnh hiện trường lập hồi 03 giờ 40 phút ngày 25/10/2021; Biên bản khám nghiệm phương tiện lập hồi 09 giờ ngày 26/10/2021; Biên bản khám nghiệm tử thi hồi 05 giờ 30 phút ngày 25/10/2021 và bản ảnh tử thi; Bản ảnh và biên bản xem xét dấu vết trên quần áo nạn nhân; Bản kết luận pháp y về tử thisố 254/KLGĐTT-PC09 ngày 08/11/2021 của Phòng Kỹ thuật Hình sự Công an tỉnh Thái Bình; Kết luận giám định số 7981/C09-TT3 ngày 30/11/2021 của Viện khoa học hình sự Bộ Công an; Công văn số 301/CV-PC09 ngày 21/12/2021 về việc phối hợp điều tra của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Bình; cùng các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.
Đối với ý kiến của bà Nguyễn Thị H2 cho rằng: Bị cáo H điều khiển xe ô tô đi với tốc độ rất nhanh, phải trên 60km/h mới dẫn tới tai nạn cho ông H1. Nhưng không có tài liệu nào khác chứng minh ngoài lời trình bày suy đoán của bà H2 về vận tốc của phương tiện gây tai nạn, nên không có cơ sở xác định bị cáo H điều khiển xe ô tô đi với tốc độ trên 60km/h.
Từ những phân tích ở trên, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Nguyễn Vi H là người đã thành niên và có năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Khoảng 00 giờ 30 phút ngày 25/10/2021 tại đường liên xã thuộc địa phận thôn KN, xã LG, Nguyễn Vi H điều khiển xe ô tô tải biển kiểm soát 17C-053.04 đi theo hướng ĐL đi LG, do đi không đúng phần đường (điều khiển xe đi ở giữa đường), không làm chủ tốc độ và thiếu chú ý quan sát nên không nhìn thấy người phía trước, đến khi phát hiện ra ông H1 thì vị trí đầu xe ô tô của H điều khiển chỉ còn cách ông H1 khoảng 03 đến 04 mét, H chỉ còn biết phanh và đánh lái sang phải theo chiều đi của H nhưng không kịp, phần đầu bên trái xe ô tô do H điều khiển đã va chạm với ông Nguyễn Đắc H1, khi ông H1 đang ở tư thế thấp và đang ở vị trí bên trái đường theo chiều đi của H, sau đó bánh trước bên trái xe ô tô đã đè qua bên trái người ông H1. Hậu quả, ông H1 chết tại hiện trường. Sau khi gây tai nạn, H biết rõ nhưng đã rời khỏi hiện trường để trốn tránh trách nhiệm.
Nguyễn Vi H đã vi phạm khoản 1 Điều 9 và Điều 38 Luật giao thông đường bộ, do đó đã phạm tội: “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”, theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 260 Bộ luật Hình sự như Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Hưng đã truy tố.
Điều 9. Quy tắc chung
1. Người tham gia giao thông phải đi bên phải theo chiều đi của mình, đi đúng làn đường, phần đường quy định và phải chấp hành hệ thống báo hiệu đường bộ.
....
Điều 38. Trách nhiệm của cá nhân, cơ quan, tổ chức khi xảy ra tai nạn giao thông.
1. Người điều khiển phương tiện và những người liên quan trực tiếp đến vụ tai nạn có trách nhiệm sau đây:
a) Dừng ngay phương tiện; giữ nguyên hiện trường; cấp cứu người bị nạn và phải có mặt khi cơ quan có thẩm quyền yêu cầu;
b) Ở lại nơi xảy ra tai nạn cho đến khi người của cơ quan công an đến, trừ trường hợp người điều khiển phương tiện cũng bị thương phải đưa đi cấp cứu hoặc phải đưa người bị nạn đi cấp cứu hoặc vì lý do bị đe dọa đến tính mạng, nhưng phải đến trình báo ngay với cơ quan công an nơi gần nhất;
c) Cung cấp thông tin xác thực về vụ tai nạn cho cơ quan có thẩm quyền.
Điều 260. Tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
1. Người nào tham gia giao thông đường bộ mà vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ gây thiệt hại cho người khác thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm
a)…
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 10 năm:
…
c) Bỏ chạy để trốn tránh trách nhiệm hoặc cố ý không cứu giúp người bị nạn;
…
5. Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.
. Xét tính chất, mức độ, hậu quả hành vi phạm tội của bị cáo thấy: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã điều khiển xe ô tô vi phạm quy tắc giao thông đường bộ được quy định trong Luật giao thông đường bộ, xâm phạm đến trật tự an toàn giao thông đường bộ, làm thiệt hại về tính mạng của người khác được pháp luật bảo vệ, gây đau khổ cho gia đình nạn nhân; bị cáo lợi dụng thời điểm trời tối, đoạn đường vắng người qua lại nên sau khi gây tai nạn đã lái xe bỏ trốn gây khó khăn cho việc điều tra. Hậu quả mà bị cáo gây ra phải chịu sự trừng trị của pháp luật. Đây là bài học cho bị cáo và những người không có ý thức chấp hành Luật giao thông đường bộ.
. Khi quyết định hình phạt, xét thấy:
Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.
Bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự là: Thành khẩn khai báo (điểm s); đã tác động để gia đình thỏa thuận bồi thường thiệt hại xong cho gia đình bị hại (điểm b). Bị cáo còn được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự như: Bị cáo có thời gian tham gia Quân đội nhân dân Việt Nam; người đại diện hợp pháp của bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo và bị hại cũng có một phần lỗi là vi phạm khoản 3 Điều 8; điểm d khoản 2 Điều 35 Luật giao thông đường bộ; cụ thể “Sử dụng lòng đường trái phép”, “Phơi thóc, lúa, rơm rạ, nông sản hoặc để vật khác trên đường bộ”, ở đây bị hại rắc lúa xuống lòng đường với mục đích để xe qua lại nhằm cho hạt thóc tách khỏi rơm và làm việc ngay dưới lòng đường vào ban đêm, không đặt bất kỳ đồ vật gì cảnh báo giúp cho Lái xe dễ phát hiện chướng ngại vật phía trước, đây cũng là một trong những nguyên nhân để xảy ra tai nạn.
. Bị cáo phạm tội thuộc trường hợp rất nghiêm trọng, với lỗi vô ý nhưng khi gây ra tai nạn lại bỏ mặc nạn nhân, điều khiển xe rời khỏi hiện trường nhằm trốn tránh trách nhiệm nên cần áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với bị cáo. Tuy nhiên, căn cứ vào thái độ thành khẩn khai báo, sự ăn năn hối cải của bị cáo tại phiên tòa, cùng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo,nên Hội đồng xét xử áp dụng Điều 54 Bộ luật Hình sự để quyết định một hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt đối với bị cáo để bị cáo được hưởng sự khoan hồng của pháp luật, yên tâm cải tạo, rèn luyện mình trở thành người có ích cho gia đình và xã hội.
Về hình phạt bổ sung: Bị cáo làm nghề buôn bán hàng hóa tại chợ hằng ngày, việc lái xe vận chuyển hàng hóa đi bán là nguồn thu nhập chính để phục vụ cuộc sống mưu sinh của bị cáo và gia đình. Do đó, không cần thiết phải áp dụng hình phạt bổ sung là cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định đối với bị cáo.
. Về trách nhiệm dân sự: Chị Vương Thị M (vợ bị cáo H) đã thay bị cáo H dùng tiền là tài sản chung của chị M và H bồi thường toàn bộ thiệt hại về tính mạng của ông H1 với số tiền 365.000.000 đồng. Đại diện hợp pháp của ông H1 đã nhận đủ số tiền trên, không yêu cầu bị cáo H bồi thường gì thêm. Thỏa thuận giữa các bên là tự nguyện, phù hợp pháp luật, nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
. Về xử lý vật chứng:
- Do không cấm hành nghề lái xe đối với bị cáo H, nên trả lại cho bị cáo H 01 giấy phép lái xe ô tô hạng B2.
- Chiếc xe ô tô nhãn hiệu Hyundai porter II, biển kiểm soát 17C-053.04 là tài sản chung của bị cáo H và vợ là chị Vương Thị M. Hội đồng xét xử tuyên trả lại xe ô tô cùng Đăng ký xe và Giấy chứng nhận kiểm định xe ô tô trên cho vợ chồng bị cáo H.
- 01 mảnh nhựa thu tại hiện trường không phải là vật chứng vụ án và không có giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy.
- Chấp nhận việc CQĐT đã trả lại 01 bộ quần áo cùng với chiếc thắt lưng da ông H1 mặc khi xảy ra tai nạn; 01 chiếc điện thoại di động và đôi dép thu tại hiện trường. Cơ quan điều tra đã trả lại ngay cho gia đình nạn nhân sau khi kiểm tra các dấu vết trên quần áo và tính hợp pháp các tài sản đó là của ông H1.
.Trong vụ án này: Chị Vương Thị M là người ngồi ở ghế phụ cùng xe ô tô do H điều khiển, tuy chị M phát hiện ông H1 ở bên trái đường cách xe ô tô khoảng 03 đến 04 mét trước khi xe H đi tới và đã hô lên để H tránh, H đã phanh gấp đánh lái sang phải để tránh, H biết việc bánh xe bên trái đã va chạm với cơ thể ông H1 nhưng H không nói sự thật cho chị M biết. Mặt khác chị M cũng không nhận biết ngay được việc xeô tô do H điều khiển đã va chạm với cơ thể của ông H1. Sau này, khi nhận được thông báo của cơ quan điều tra thì chị M mới biết nên chị M không bị xem xét xử lý về hình sự.
. Về án phí: Bị cáo phải chịu tiền án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
. Về quyền kháng cáo: Bị cáo; người đại diện hợp pháp cho bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và người đại diện hợp pháp cho người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong thời hạn luật định.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Vi H phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 260; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 50; Điều 54 Bộ luật Hình sự;
2. Xử phạt: Nguyễn Vi H 02 năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam 18/01/2022.
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Nguyễn Vi H.
3. Về trách nhiệm dân sự:Áp dụng Điều 48 Bộ luật Hình sự, các Điều 584, 585, 591 Bộ luật Dân sự.
Chấp nhận sự thỏa thuận giữa gia đình bị cáo Nguyễn Vi H với đại diện hợp pháp của bị hại ông Nguyễn Đắc H1 về việc bồi thường toàn bộ thiệt hại về tính mạng của ông Nguyễn Đắc H1 số tiền 365.000.000 đồng (trách nhiệm bồi thường của bị cáo H đã xong).
4. Xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 48 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
- Trả lại cho bị cáo Nguyễn Vi H 01 Giấy phép lái xe ô tô hạng B2 số 310130000921, mang tên Nguyễn Vi H.
- Trả lại cho bị cáo Nguyễn Vi H và vợ là chị Vương Thị M, sinh năm 1982; nơi cư trú: Thôn KC, xã AC, huyện ĐH, tỉnh TB 01xe ô tô nhãn hiệu Hyundai porter II, biển kiểm soát 17C-053.04 cùng 01 Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô và và Giấy chứng nhận kiểm định xe ô tô trên.
- Tịch thu tiêu hủy 01 mảnh nhựa thu tại hiện trường không phải là vật chứng vụ án
(Xe ô tô và mảnh nhựa đã được bàn giao sang Chi cục thi hành án dân sự huyện ĐH ngày 26/5/2022)
- Chấp nhận việc Cơ quan điều tra đã trả lại cho gia đình bị hại ông Nguyễn Đắc H1 01 bộ quần áo cùng với chiếc thắt lưng da ông H1 mặc khi xảy ra tai nạn; 01 chiếc điện thoại di động và đôi dép thu tại hiện trường.
5. Về án phí:Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa XIV.
Bị cáo Nguyễn Vi H phải chịu 200.000đồng án phí hình sự sơ thẩm.
6. Về quyền kháng cáo: Bị cáo; đại diện hợp pháp cho bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; người đại diện hợp pháp cho người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày (kể từ ngày tuyên án sơ thẩm đối với người có mặt tại phiên tòa; kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật đối với người vắng mặt tại phiên tòa).
| Nơi nhận: - Người tham gia tố tụng; - VKSND Huyện Đông Hưng; - VKSND tỉnh Thái Bình - Chi cục THADS Huyện ĐH; - Công an huyện Đông Hưng; - Sở tư pháp tỉnh Thái Bình; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Đã ký Lê Kiên Trung |