- Tranh chấp gì? Yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn... — án hôn nhân và gia đình — "anh Ngân xin ly hôn chị Sơn"
- Tòa quyết gì? Xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Đinh Công Ng.
- Căn cứ chính? Điều 14 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN LẬP CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TỈNH PHÚ THỌ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 44/2022/HNGĐ-ST Ngày: 07/12/2022 V/v “tranh chấp hôn nhân gia đình” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN LẬP, TỈNH PHÚ THỌ
-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:
Ông Hoàng Văn M.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Trần Quốc H.
Ông Hoàng Trọng L.
-Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Xuân H – Thư ký Toà án nhân dân huyện Yên Lập, tỉnh Phú Thọ.
-Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Lập, tỉnh Phú Thọ tham gia phiên tòa: Ông Đinh Tiến K - Kiểm sát viên.
Ngày 07 tháng 12 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Yên Lập, tỉnh Phú Thọ. Xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 140/2022/TLST-HNGĐ ngày 12 tháng 10 năm 2022 về “tranh chấp hôn nhân gia đình” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 50/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 23 tháng 11 năm 2022 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Ông Đinh Công Ng, sinh năm 1963.
Nơi ĐKHKTT: Thôn Đức Thành, xã Lộc Đức, huyện Bảo Lâm, tỉnh Lâm Đồng.
Nơi tạm trú: Khu Minh Tân, xã Phuc Khánh, huyện Yên Lập, tỉnh Phú Thọ.
(vắng mặt có đơn đề nghị xét xử vắng mặt)
2. Bị đơn: Bà Nguyễn Thị S, sinh năm 1969.
Địa chỉ: Khu Minh Tiến, xã Đồng Thịnh, huyện Yên Lập, tỉnh Phú Thọ.
(vắng mặt có đơn đề nghị xét xử vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
-Nguyên đơn ông Đinh Công Ng trình bày tại đơn khởi kiện, bản tự khai và ý kiến tại phiên hòa giải như sau:
Về quan hệ hôn nhân: Tôi và bà Nguyễn Thị S tự nguyện tìm hiểu và kết hôn với nhau có đăng ký kết hôn tại UBND xã Đồng Thịnh (Nay bị mất giấy đăng ký kết hôn, không còn lưu giữ tài liệu nào thể hiện vợ chồng có đăng ký kết hôn), có tổ chức lễ cưới theo phong tục địa phương, vợ chồng chung sống với nhau từ cuối năm 1987 thời gian đầu chung sống hòa thuận hạnh phúc nhưng sau đó đến năm 1992 xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân do không hợp nhau bất đồng quan điểm trong cuộc sống, ông và bà S đã tự khắc phục nhưng không có kết quả, và sống ly thân nhau từ năm 1992 đến nay, không còn quan tâm đến nhau nữa. Nay ông đề nghị Tòa án giải quyết ly hôn với bà Nguyễn Thị S.
Về con chung: Ông xác định vợ chồng có 01 con chung là Đinh Thị Th, sinh ngày 15/12/1989, con chung hiện nay đã thành niên và xây dựng gia đình riêng, nên không đề nghị Tòa án giải quyết nuôi con chung.
Về tài sản chung, công nợ, công sức: Ông xác định không có, không đề nghị Tòa án giải quyết.
- Bị đơn bà Nguyễn Thị S trình bày tại bản tự khai và ý kiến tại phiên hòa giải như sau:
Về quan hệ hôn nhân: Bà và ông Đinh Công Ng tự nguyện tìm hiểu và kết hôn với nhau có đăng ký kết hôn tại UBND xã Đồng Thịnh (Nay bị mất giấy đăng ký kết hôn, không còn lưu giữ tài liệu nào thể hiện vợ chồng có đăng ký kết hôn), có tổ chức lễ cưới theo phong tục địa phương, sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hòa thuận hạnh phúc. Trong cuộc sống vợ chồng bà xác định không xảy ra mâu thuẫn vào năm 1992 ông Ngân nói đi vào miền nam làm ăn kể từ đó ông Ngân không có trách nhiệm với gia đình, một minh bà phải nuôi dạy con cái, gánh vác công việc của hai bên nội ngoại, vợ chồng sống ly thân nhau từ năm 1992 đến nay không còn quan tâm đến nhau nữa. Nay ông Ng xin ly hôn bà xác định vẫn còn tình cảm nên không nhất trí ly hôn.
Về con chung: Bà xác định vợ chồng có 01 con chung là Đinh Thị Th, sinh ngày 15/12/1989, con chung hiện nay đã thành niên và xây dựng gia đình riêng, nên không đề nghị Tòa án giải quyết nuôi con chung.
Về tài sản chung, công nợ, công sức: Bà không đề nghị Tòa án giải quyết.
- Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Lập, tỉnh Phú Thọ phát biểu ý kiến:
Về thủ tục tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký, nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đã chấp hành đúng quy định của pháp luật trong quá trình thu thập, đánh giá chứng cứ từ khi thụ lý vụ án đến khi xét xử vụ án.
Về nội dung vụ án đề HĐXX:
Căn cứ các Điều 14, khoản 2 Điều 53 của Luật Hôn nhân và gia đình.
Căn cứ khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội .
Xử: Không công nhận ông Đinh Công Ng và bà Nguyễn Thị S là vợ chồng.
Về con chung: Ông, bà xác định vợ chồng có 01 con chung là Đinh Thị Th, sinh ngày 15/12/1989, con chung hiện nay đã thành niên và xây dựng gia đình riêng, nên không đề nghị Tòa án giải quyết nuôi con chung, nên đề nghị hội đồng xét xử không xem xét.
Về tài sản chung; công nợ: Ông Ng, bà S không đề nghị Tòa án giải quyết, nên đề nghị hội đồng xét xử khong xem xét.
Về án phí ly hôn sơ thẩm: Ông Đinh Công Ng phải chịu 300.000đồng án phí ly hôn sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:
Về thủ tục tố tụng: Căn cứ đơn khởi kiện của Ông Đinh Công Ng, Hội đồng xét xử xác định đây là vụ án“tranh chấp không công nhận quan hệ vợ chồng, nuôi con”. Bị đơn Bà Nguyễn Thị S có địa chỉ tại xã Đồng Thịnh, huyện Yên Lập. Căn cứ theo quy định tại khoản 7 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự vụ án thuộc thẩm giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Yên Lập, tỉnh Phú Thọ.
Tại phiên tòa hôm nay nguyên đơn ông Đinh Công Ng, bị đơn bà Nguyễn Thị Sơ có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Vì vậy, căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 228, Điều 238 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án.
Về nội dung vụ án:
Về quan hệ hôn nhân: Ông Đinh Công Ng và bà Nguyễn Thị S trình bày ông bà có đang ký kết hôn tại UBND xã đồng Thịnh, Nay bị mất giấy chứng nhận kết hôn. Sau khi xác minh tại UBND xã Đồng Thịnh từ năm 1986 đến nay không thể hiện ông Ng và bà S có đăng ký kết hôn. Khu hành chính và đại diện UBND xã đồng Thịnh cho biết khoảng cuối năm 1987 ông Ng và bà S có tổ chức đám cưới theo phong tục địa phương và về chung sống với nhau, đến năm 1992 thi ly thân nhau từ đó đến nay. Như vậy ông Ngân và bà Sơn chung sống với nhau như vợ chồng từ cuối năm 1987 đến nay không có đăng ký kết hôn. Theo quy định tại khoản 1 Điều 14 của Luật hôn nhân và gia đình thì nam nữ có đủ điều kiện kết hôn theo quy định chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn thì không phát sinh quyền, nghĩa vụ giữa vợ và chồng, khi có yêu cầu ly hôn theo quy định tại khoản 2 Điều 53 của Luật hôn nhân và gia đình Tòa án thụ lý và tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng. Quan hệ hôn nhân giữa chị Ông Đinh Công Ng và bà Nguyễn Thị S không được pháp luật công nhận là quan hệ vợ chồng. Do vậy, cần tuyên bố ông Đinh Công Ng và bà Nguyễn Thị S không phải là vợ chồng.
Về con chung: Ông Đinh Công Ng và bà Nguyễn Thị S xác định có 01 con chung là Đinh Thị Th, sinh ngày 15/12/1989, con chung hiện nay đã thành niên và xây dựng gia đình riêng, đều không đề nghị Tòa án giải quyết nuôi con chung, nên không xem xét giải quyết.
Về tài sản chung; công nợ: Ông Đinh Công Ng và bà Nguyễn Thị S đều không đề nghị Tòa án giải quyết, nên không xem xét giải quyết.
Về án phí ly hôn sơ thẩm: Ông Đinh Công Ng phải chịu 300.000đồng án phí ly hôn sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 14, khoản 2 Điều 53 của Luật Hôn nhân và gia đình;
Căn cứ khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 228, khoản 1 Điều 238 của Bộ luật tố tụng dân sự;
Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Đinh Công Ng.
Về quan hệ hôn nhân: xử không công nhận Ông Đinh Công Ng và bà Nguyễn Thị S là vợ chồng.
Về con chung: Ông Đinh Công Ng và bà Nguyễn Thị S xác định có 01 con chung là Đinh Thị Th, sinh ngày 15/12/1989, con chung hiện nay đã thành niên và xây dựng gia đình riêng, đều không đề nghị Tòa án giải quyết nuôi con chung, nên không xem xét giải quyết.
Về tài sản chung; công nợ: Ông Đinh Công Ng và bà Nguyễn Thị S đều không đề nghị Tòa án giải quyết, nên không xem xét giải quyết.
Về án phí: Ông Đinh Công Ng phải chịu 300.000đồng án phí ly hôn sơ thẩm. Xác nhận ông Đinh Công Ng đã nộp 300.000đồng (Ba trăm nghìn đồng) tại biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2020/0008490 ngày 12/10/2022 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Yên Lập, tỉnh Phú Thọ. Ông Đinh Công Ng đã nộp đủ.
Các đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án tại UBND xã nơi cư trú để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ xét xử phúc thẩm.
| Nơi nhận: - VKSND huyện Yên Lập; - Chi cục THADS huyện Yên Lập; - UBND xã Đồng Thịnh; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ vụ án; - Lưu văn phòng. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Trần Quốc Hùng Hoàng Trọng Lượng | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hoàng Văn M THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hoàng Văn Mẫu |