vanban.org

Bản án 44/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn.

1 Về quan hệ hôn nhân: Cho ly hôn giữa bà N và ông Y. 2 Về con chung: Giao cháu B, sinh ngày 14/01/2020 cho bà N trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Bà N không yêu cầu ông Y cấp dưỡng nuôi con chung nên Tòa án không xem xét.

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 271 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ CAM RANH
TỈNH KHÁNH HOÀ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 44/2022/HNGĐ-ST
Ngày: 09/8/2022
V/v: Ly hôn.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CAM RANH, TỈNH KHÁNH HÒA

Với phiên tòa xét xử sơ thẩm theo thủ tục rút gọn gồm có:

- Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Bảy Nhuận

- Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Trần Thị Thanh Huyền – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Cam Ranh, tỉnh Khánh Hòa.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cam Ranh, tỉnh Khánh Hòa tham gia phiên tòa: Ông Bùi Văn Khánh - Kiểm sát viên.

Ngày 09 tháng 8 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Cam Ranh tiến hành xét xử sơ thẩm công khai theo thủ tục rút gọn vụ án hôn nhân gia đình sơ thẩm thụ lý số 100/2022/TLST-HNGĐ ngày 27/6/2022 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 52/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 18/7/2022; Quyết định hoãn phiên tòa số 52/2022/QĐST-HNGĐ ngày 25/7/2022; Thông báo hoãn phiên tòa số 26/2022/TB-TA ngày 29/7/2022 và thông báo hoãn phiên tòa số 27/2022/TB-TA ngày 04/8/2022 giữa các đương sự:

* Nguyên đơn: Bà N, sinh năm: 2001

Nơi cư trú: Thôn G, xã T, huyện H, tỉnh Bình Thuận. Có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

* Bị đơn: Ông Y, sinh năm: 1994

Nơi cư trú: Tổ dân phố N, phường C, thành phố R, tỉnh Khánh Hòa. Có mặt.

NỘI D NG V ÁN:

Tại đơn khởi kiện đề ngày 01/6/2022, bản tự khai ngày 01/7/2022 nguyên đơn bà N trình bày:

- Về hôn nhân: Bà và ông Y tự nguyện tìm hiểu, có đăng ký kết hôn và được UBND phường Cam Nghĩa, thành phố Cam Ranh, tỉnh Khánh Hòa cấp giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 147 ngày 09/10/2019. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc, nhưng đến năm 2022 thì giữa hai vợ chồng bắt đầu phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do ông Ý thường xuyên đánh đập, xúc phạm, chửi bới bà. Bà và ông Ý đã sống ly thân từ tháng 5 năm 2022 đến Nay. Nhận thấy, cuộc hôn nhân này không có hạnh phúc, không thể hàn gắn được nên bà yêu cầu được ly hôn với ông Y.

- Về con chung: Bà và ông Y có một con chung là cháu B, sinh ngày 14/01/2020, bà yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con chung và không yêu cầu ông Y cấp dưỡng nuôi con chung.

- Về tài sản chung và nợ chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại bản tự khai đề ngày 04/7/2022 bị đơn ông Y trình bày:

- Về hôn nhân: Ông không đồng ý ly hôn với bà N.

- Về con chung: Ông và bà N có 01 con chung là cháu B, sinh ngày 14/01/2020, ông không đồng ý giao con chung cho bà N trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng.

- Về tài sản chung và nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại phiên toà:

Nguyên đơn vắng mặt nhưng đã có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

Bị đơn trình bày ý kiến: Nguyên nhân mâu thuẫn giữa hai vợ chồng là do bà N xúc phạm gia đình ông và có quan hệ ngoài luồng với người khác, sau khi bị phát hiện qua tin nhắn điện thoại thì giữa hai vợ chồng có xảy ra mâu thuẫn cãi vã, ông không đồng ý ly hôn với bà N, không đồng ý giao con chung cho bà N trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng, về tài sản chung và nợ chung ông không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Đại diện Viện kiểm sát phát biểu: Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán, Thư ký Tòa án đã tuân thủ đúng các qui định của Bộ luật tố tụng dân sự, xác định đúng thẩm quyền, quan hệ pháp luật tranh chấp. Nguyên đơn và bị đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình.

Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Tòa án chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà N cho bà N ly hôn ông Ý; về con chung: Giao con chung cho bà N trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Bà N không yêu cầu ông Ý cấp dưỡng nuôi con nên không xem xét. Về tài sản chung: Bà N, ông Ý không yêu cầu giải quyết nên không xem xét. Về án phí đương sự phải chịu theo quy định của pháp luật.

NH N NH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, Tòa án nhận định:

[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án:

Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn cùng các tài liệu có trong hồ sơ vụ án có đủ cơ sở xác định đây là vụ án dân sự về việc: “Ly hôn”, do bị đơn là ông Y cư trú tại phường Cam Nghĩa, thành phố Cam Ranh nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Cam Ranh theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Vụ án được thụ lý giải quyết theo thủ tục rút gọn.

[2] Về thủ tục tố tụng: Bà N có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt. Căn cứ khoản 1 Điều 320 Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn.

[3] Về yêu cầu của đương sự:

[3.1] Về quan hệ hôn nhân: Bà N và ông Y tự nguyện chung sống, có đăng ký kết hôn ngày 09/10/2019 tại UBND phường C, thành phố Cam Ranh, tỉnh Khánh Hòa. Đây là hôn nhân hợp pháp.

Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc thời gian đầu nhưng về sau thường xuyên phát sinh nhiều mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do hai vợ chồng bất đồng quan điểm, không tìm được tiếng nói chung, thường xuyên cãi vã, giữa hai vợ chồng có xảy ra xô xát, hiện nay hai vợ chồng đã sống ly thân. Tòa án thấy rằng giữa hai vợ chồng tình cảm không còn, không thể hàn gắn được, hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Vì vậy, cần chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà N, cho bà N ly hôn ông Ý để tạo điều kiện cho hai bên ổn định cuộc sống riêng.

[3.2] Về con chung: Bà N và ông Y có một con chung là cháu B, sinh ngày 14/01/2020. Bà N có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng con chung, ông Ý cũng có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng con chung, bị đơn ông Y có cung cấp cho Tòa án Đơn xin xác nhận về việc không quan tâm đối với con cái có xác nhận của Ban chấp hành Hội phụ nữ phường Cam Nghĩa cho rằng do mâu thuẫn vợ chồng nên đã bỏ nhà đi, không quan tâm con cái cho đến nay. Tòa án xét thấy, bà N xác định nguyên nhân mâu thuẫn vợ chồng là do ông Y thường xuyên đánh đập, chửi bới xúc phạm bà nên bà phải bỏ về nhà tại Bình Thuận để sống ly thân. Mặt khác, cháu B tính đến thời điểm Tòa án xét xử vụ án chưa đủ 36 tháng tuổi theo quy định tại khoản 3 Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình thì cháu B sẽ được giao cho mẹ trực tiếp nuôi dưỡng, bà N không có văn bản hoặc ý kiến nào về việc đồng ý giao con chung dưới 36 tháng tuổi cho ông Y trực tiếp nuôi dưỡng và giữa ông Y với bà N cũng không có sự thỏa thuận nào khác về việc nuôi dưỡng chăm sóc con chung khi ly hôn. Vì vậy, Tòa án chấp nhận yêu cầu của bà N, giao con chung cho bà N trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Bà N không yêu cầu ông Y cấp dưỡng nuôi con chung nên Tòa án không xem xét.

[3.3] Về tài sản: Nguyên đơn, bị đơn không yêu cầu giải quyết nên Tòa án không xem xét.

[4] Về án phí: Bà N phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

Q YẾT NH:

Căn cứ vào các Điều 51, 56, 58, 81, 82, 83 và Điều 84 Luật Hôn nhân gia đình;

Căn cứ khoản 1 Điều 28; khoản 1 Điều 35; khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; Điều 271; khoản 1 Điều 320 và Điều 322 Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTUQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội (quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản Thi và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án).

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn.

1.1 Về quan hệ hôn nhân: Cho ly hôn giữa bà N và ông Y.

1.2 Về con chung: Giao cháu B, sinh ngày 14/01/2020 cho bà N trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Bà N không yêu cầu ông Y cấp dưỡng nuôi con chung nên Tòa án không xem xét.

Ông Y có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được cản trở, nhưng không được lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung của người trực tiếp nuôi con. Vì quyền lợi mọi mặt của con chung, theo yêu cầu của một hoặc cả hai bên Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, thay đổi mức cấp dưỡng nuôi con hoặc hạn chế quyền thăm nom, chăm sóc con của người không trực tiếp nuôi con.

1.3 Về tài sản: Nguyên đơn và bị đơn không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.

2. Về án phí: Bà N phải nộp 150.000 đồng (Một trăm năm mươi nghìn đồng) án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm nhưng được trừ vào 150.000 đồng (Một trăm năm mươi nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí bà đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí lệ phí tòa án số AA/2021/0007147 ngày 22 tháng 6 năm 2022 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Cam Ranh. Bà N đã nộp đủ tiền án phí.

3. Quyền kháng cáo: Đương sự có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 07 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 07 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

* Quy định:

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ