vanban.org

Bản án 44/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Anh Nguyễn Thành Đ ly hôn với chị Lâm Thị Tr.

Về con chung: Giao hai con chung là Nguyễn Thị Kim Ng, sinh ngày 20/8/2016; Nguyễn Lâm Th, sinh ngày 06/10/2018 cho anh Nguyễn Thành Đ trực tiếp nuôi dưỡng. Anh Nguyễn Thành Đ không yêu cầu chị Lâm Thị Tr cấp dưỡng nuôi con. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn Được Trắng"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Anh Nguyễn Thành Đ ly hôn với chị Lâm Thị Tr.
  • Căn cứ chính? Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN HỚN QUẢN
TỈNH BÌNH PHƯỚC

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 44 /2022/HNGĐ-ST
Ngày: 22 – 6 – 2022
V/v “Ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HỚN QUẢN, TỈNH BÌNH PHƯỚC

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Bà Đoàn Thị Thu Thủy

Các hội thẩm nhân dân: 1. Bà Trương Thị Ngọc Linh

2. Ông Nguyễn Đình Như

Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Lan– Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hớn Quản.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hớn Quản tham gia phiên tòa: Nguyễn Văn Sơn – Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 6 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hớn Quản xét xử sơ thẩm, công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số: 136/2022/TLST-HNGĐ ngày 11 tháng 5 năm 2022 về việc “Ly hôn” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 48/2022/QĐXXST- HNGĐ ngày 07/6/2022 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Anh Nguyễn Thành Đ, sinh năm 1985; Địa chỉ: Tổ 51, ấp L, xã Chà L, huyện D, tỉnh Tây Ninh (Có yêu cầu vắng mặt)

Bị đơn: Chị Lâm Thị Tr, sinh năm 1995; Địa chỉ: Tổ 2, ấp Sóc 5, xã T, huyện H, tỉnh Bình Phước (Có yêu cầu vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trình bày và yêu cầu của anh Nguyễn Thành Đ:

Anh Nguyễn Thành Đ và chị Lâm Thị Tr tự nguyện chung sống từ năm 2014 đến năm 2016 thì đăng ký kết hôn theo Giấy chứng nhận kết hôn số 53/2016 ngày 04/7/2016 tại Ủy ban nhân dân xã Chà L, huyện D, tỉnh Tây Ninh. Sau khi kết hôn anh chị sống cùng gia đình anh Đ tại Tây Ninh. Quá trình chung sống vợ chồng có mâu thuẫn nhỏ, không có gì nghiêm trọng. Vào tháng 02 năm 2022 chị Tr để con ở nhà nói là về quê lấy giấy tờ, sau đó bỏ đi luôn không quay về nhà nữa. Sau một khoảng thời gian chị Tr không liên lạc về gia đình, anh Đ nhận thấy tình cảm vợ chồng đã không còn nên yêu cầu ly hôn với chị Tr.

Về con chung, anh chị có hai con chung là Nguyễn Thị Kim Ng, sinh ngày 20/8/2016; Nguyễn Lâm Th, sinh ngày 06/10/2018. Khi chị Tr bỏ nhà đi không mang theo con, hai con hiện nay đều do anh Đ nuôi dưỡng. Do vậy, anh Đ yêu cầu được tiếp tục nuôi cả hai con, không yêu cầu chị Tr cấp dưỡng nuôi con.

Tài sản chung và nợ chung: Không có.

Trình bày của chị Lâm Thị Tr:

Chị Lâm Thị Tr và anh Nguyễn Thành Đ chung sống từ năm 2014 đến năm 2016 thì đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Chà L, huyện D, tỉnh Tây Ninh. Sau khi kết hôn anh chị sống cùng gia đình chồng tại Tây Ninh. Quá trình chung sống anh chị có nhiều mâu thuẫn, không hòa hợp, anh Đ là tài xế nên thường có quan hệ với nhiều phụ nữ khác, từ đó dẫn đến vợ chồng càng thêm xa cách, không ai quan tâm đến ai. Vào tháng 02/2022 vợ chồng cãi nhau do vấn đề tiền bạc, do không chịu đựng được nữa nên chị Tr bỏ về nhà cha mẹ ruột và hiện nay chị đang đi làm công nhân ở Bình Dương. Chị Tr nhận thấy vợ chồng tình cảm không còn, không còn gì để níu kéo nên đồng ý ly hôn theo yêu cầu của anh Đ.

Đối với hai con chung là Nguyễn Thị Kim Ng, sinh ngày 20/8/2016; Nguyễn Lâm Th, sinh ngày 06/10/2018. Khi bỏ nhà đi, chị Tr để hai con lại cho anh Đ nuôi dưỡng. Hiện nay chị Tr làm công nhân, chỗ ở và điều kiện chăm sóc cho con đều không đảm bảo nên chị đồng ý để hai con cho anh Đ tiếp tục nuôi dưỡng. Về cấp dưỡng nuôi con hai bên sẽ tự thỏa thuận với nhau.

Tài sản chung và nợ chung: Không có.

Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát phát biểu như sau:

Về tố tụng: Thẩm phán đã tuân thủ đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự về việc thu thập chứng cứ, giải quyết vụ án từ khi, nhận đơn, thụ lý vụ án đến trước khi Hội đồng xét xử mở phiên toà. Tại phiên toà hôm nay, Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Kiến nghị vụ án có vi phạm thời hạn chuẩn bị xét xử.

Về nội dung vụ án: Xét hai đương sự cùng thống nhất ly hôn nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận đơn khởi kiện, cho anh Nguyễn Thành Đ ly hôn với chị Lâm Thị Tr. Giao con chung Nguyễn Thị Kim Ng, sinh ngày 20/8/2016; Nguyễn Lâm Th, sinh ngày 06/10/2018 cho anh Nguyễn Thành Đ trực tiếp nuôi dưỡng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa và kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng:

Anh Nguyễn Thành Đ khởi kiện yêu cầu ly hôn với chị Lâm Thị Tr có nơi cư trú tại xã Tân Hiệp, huyện Hớn Quản, nên đây là vụ án Ly hôn thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Hớn Quản, tỉnh Bình Phước theo khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự 2015.

Anh Nguyễn Thành Đ và chị Lâm Thị Tr đều có đơn yêu cầu vắng mặt tại phiên tòa, Hội đồng xét xử căn cứ Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt cả hai đương sự.

Về quan hệ hôn nhân: Anh Đ và chị Tr tự nguyện chung sống và có đăng ký kết hôn năm 2011 tại Ủy ban nhân dân xã Chà L, huyện D, tỉnh Tây Ninh nên đây là hôn nhân hợp pháp theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình.

Anh Đ và chị Tr đều xác định mâu thuẫn của vợ chồng đã trầm trọng nên cả hai cùng thống nhất yêu cầu được ly hôn. Đây là ý chí tự nguyện của đương sự nên Hội đồng xét xử chấp nhận cho hai đương sự ly hôn.

Về con chung: Hai con chung là Nguyễn Thị Kim Ng, sinh ngày 20/8/2016; Nguyễn Lâm Th, sinh ngày 06/10/2018 hiện nay đang sống cùng anh Đ. Do hiện nay chị Tr không có điều kiện chăm sóc cho các con nên đồng ý để anh Đ tiếp tục nuôi dưỡng hai con. Do các bên cùng thống nhất quan điểm về giao nuôi con chung nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của anh Đ về việc giao hai con cho anh Đ trực tiếp nuôi dưỡng.

Anh Đ không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con nên không xem xét.

Tài sản chung và nợ chung: Không có nên không giải quyết.

Quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là phù hợp với quy định của pháp luật.

Về án phí: Nguyên đơn chịu án phí theo quy định.

Vì các lẽ nêu trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, các Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự; các điều 51, 56, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án của Ủy ban thường vụ Quốc Hội:

Tuyên xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Anh Nguyễn Thành Đ ly hôn với chị Lâm Thị Tr.

2. Về con chung: Giao hai con chung là Nguyễn Thị Kim Ng, sinh ngày 20/8/2016; Nguyễn Lâm Th, sinh ngày 06/10/2018 cho anh Nguyễn Thành Đ trực tiếp nuôi dưỡng.

Anh Nguyễn Thành Đ không yêu cầu chị Lâm Thị Tr cấp dưỡng nuôi con.

Cha, mẹ trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó. Vì lợi ích mọi mặt của con chưa thành niên, khi người trực tiếp nuôi con không còn đủ điều kiện trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì có thể thay đổi người trực tiếp nuôi con. Người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu người không trực tiếp nuôi con cấp dưỡng nuôi con.

3. Về án phí: Anh Nguyễn Thành Đ phải chịu 300.000đ án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm được trừ vào tạm ứng án phí nộp theo biên lai thu số 0013839 ngày 10/5/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hớn Quản, tỉnh Bình Phước.

5. Quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định./.

Cỡ chữ