- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án dân sự — "Tranh chấp tiền giữa ngân hàng X và ông Q"
- Tòa quyết gì? [1] Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng thương mại cổ phần Bưu Điện Liên Việt.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VỊ THỦY TỈNH HẬU GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 44/2022/DS-ST Ngày: 06-10-2022 V/v Tranh chấp hợp đồng tín dụng. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VỊ THỦY, TỈNH HẬU GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Đào Thị Thủy
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Đỗ Hoàng Ân
2. Bà Lưu Thị Phương Xa
- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Trung Toàn – Thẩm tra viên Tòa án nhân dân huyện Vị Thủy.
Ngày 06 tháng 10 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Vị Thủy mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 30/2022/TLST – DS ngày 08 tháng 4 năm 2022 về tranh chấp hợp đồng tín dụng, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 93/2022/QĐXXST-DS, ngày 05 tháng 9 năm 2022 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Ngân hàng thương mại cổ phần Bưu Điện Liên Việt.
Địa chỉ: Tầng 1, 3, 4, 5, 6 Tòa nhà Thaihodings Tower, số 210, đường Trần Quang Khải, phường Tràng Tiền, quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Phạm Doãn Sơn – Tổng giám đốc.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Trần Hữu Tân – Giám đốc Ngân hàng thương mại cổ phần Bưu điện Liên Việt Chi nhánh Hậu Giang.
Đại diện ủy quyền tham gia tố tụng: ông Nguyễn Hùng Trị – Chuyên viên hỗ trợ hoạt động – Phòng hỗ trợ hoạt động – Chi nhánh Hậu Giang.
Địa chỉ: Số 32, Nguyễn Công Trứ, phường 1, thành phố Vị Thanh, tỉnh Hậu Giang.
Văn bản ủy quyền số 127/2022/QĐ-LienVietPostBank.HG ngày 28.02.2022.
2. Bị đơn: Ông Nguyễn Văn Quận, sinh năm 1962
Bà Lê Thị Nhị, sinh năm: 1964
Địa chỉ: Ấp 5, xã Vị Đông, huyện Vị Thủy, tỉnh Hậu Giang.
(Nguyên đơn có mặt, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện đại diện của nguyên đơn trình bày: Ngân hàng Thương mại cổ phần Bưu Điện Liên Việt (sau đây viết tắt là Ngân hàng TMCP Bưu Điện Liên Việt) chi nhánh Hậu Giang đã cấp tín dụng cho ông Nguyễn Văn Quận và Lê Thị Nhị theo hợp đồng tín dụng kiêm khế ước nhận nợ số HDTD800202001538 ký ngày 10/11/2020 số tiền 50.000.000đ, mục đích trồng lúa, nuôi vịt đẻ, thời hạn vay 11 tháng, lãi suất vay trong hạn 11,85%/năm; lãi suất quá hạn gốc bằng 150% lãi suất trong hạn, lãi suất chậm trả lãi 10%/năm tính trên số dư lãi chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả lãi, trả lãi định kỳ 03 tháng 01 lần; gốc trả cuối cùng ngày 10/10/2021. Khoản vay trên đã quá hạn kể từ ngày 10/11/2021.
Ngân hàng đã nhiều lần đôn đốc nhắc nhở nhưng ông Nguyễn Văn Quận và bà Lê Thị Nhị không thực hiện nghĩa vụ trả nợ. Nay Ngân hàng khởi kiện yêu cầu ông Nguyễn Văn Quận và bà Lê Thị Nhị trả số tiền tổng cộng 23.015.836đ (trong đó nợ gốc 15.437.171đ, lãi trong hạn 616.845đ, tiền lãi quá hạn 6.901.825đ, lãi chậm trả lãi 59.995đ) và yêu cầu tiếp tục tính lãi kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi tất toán các khoản nợ.
Trong quá trình giải quyết vụ án Nguyễn Văn Quận và Lê Thị Nhị đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt và không thể hiện ý kiến đối với yêu cầu của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ đã thể hiện trong hồ sơ vụ án được thẩm tra, tranh luận tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại tòa án, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về thủ tục tố tụng: Bị đơn ông Nguyễn Văn Quận và bà Lê Thị Nhị đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt tại phiên tòa không có lý do. Do đó căn cứ vào Điều 227 và 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt ông ông Nguyễn Văn Quận và bà Lê Thị Nhị.
Về thẩm quyền và quan hệ tranh chấp: Theo đơn khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng TMCP Bưu Điện Liên Việt yêu cầu ông Nguyễn Văn Quận và bà Lê Thị Nhị trả số tiền còn nợ theo hợp đồng tín dụng đã ký với Ngân hàng nên Hội đồng xét xử xác định là “Tranh chấp về hợp đồng tín dụng” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Vị Thủy theo quy định tại Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung khởi kiện: Ngày 10/11/2020 Ngân hàng TMCP Bưu Điện Liên Việt có giải ngân cho ông Nguyễn Văn Quận và bà Lê Thị Nhị vay số tiền 50.000.000 đồng, thời hạn vay 11 tháng, kỳ hạn trả lãi định kỳ 03 tháng 01 lần. Sau khi giải ngân xong thì ông Quận và bà Nhị chỉ trả được một phần tiền vốn vay rồi ngưng mặc dù đã được ngân hàng nhắc nhở nhiều lần nên hai bên phát sinh tranh chấp.
Xét hợp đồng tín dụng số HDTD800202001538 ký ngày 10/11/2020 số tiền vay là 50.000.000đ, mục đích trồng lúa, nuôi vịt đẻ, thời hạn vay 11 tháng, lãi suất vay trong hạn 11,85%/năm; lãi suất quá hạn gốc bằng 150% lãi suất trong hạn, lãi suất chậm trả lãi 10%/năm tính trên số dư lãi chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả lãi, trả lãi định kỳ 03 tháng 01 lần; gốc trả cuối cùng ngày 10/10/2021. Khoản vay trên đã quá hạn kể từ ngày 10/11/2021. Xét thấy nội dung và hình thức hợp đồng đã phù hợp theo quy định tại Điều 51 Luật tổ chức tín dụng và Điều 405 Bộ luật dân sự. Do đó hợp đồng tín dụng trên làm phát sinh quyền và nghĩa vụ giữa các bên.
Sau khi ký hợp đồng vay vốn phía Ngân hàng TMCP Bưu Điện Liên Việt đã giải ngân số tiền 50.000.000 đồng cho ông Nguyễn Văn Quận và bà Lê Thị Nhị, nhưng ông Quận và bà Nhị chỉ trả được số tiền 34.562.829đ rồi ngưng không trả vốn và lãi tiếp theo, đại diện phía ngân hàng có nhắc nhở nhiều lần nhưng ông Quận và bà Nhị không thực hiện làm ảnh hưởng đến quyền lợi của Ngân hàng. Xét thấy ông Nguyễn Văn Quận và bà Lê Thị Nhị đã có vi phạm nghĩa vụ tại khoản 4.1, 4.2, 4.3 Điều 4, Điều 9 của hợp đồng nên Ngân hàng khởi kiện yêu cầu ông Quận và bà Nhị trả số tiền vốn còn nợ 15.437.171đ là hoàn toàn có cơ sở chấp nhận và phù hợp theo Điều 466 Bộ luật dân sự.
Xét yêu cầu tính lãi của Ngân hàng TMCP Bưu Điện Liên Việt: Nguyên đơn Ngân hàng TMCP Bưu Điện Liên Việt yêu cầu tính lãi suất theo thỏa thuận trong hợp đồng vay vốn từ ngày 10/11/2020 cho đến khi trả hết nợ. Hội đồng xét xử xét thấy do ông Nguyễn Văn Quận và bà Lê Thị Nhị không thực hiện nghĩa vụ thanh toán nợ gốc trong thời hạn vay theo hợp đồng vay vốn số HDTD800202001538 ngày 10/11/2020 dẫn đến phải chịu lãi suất trên toàn bộ số dư nợ gốc thực tế còn lại của khoản vay bị chuyển sang nợ quá hạn, lãi suất cho vay 11,85%/năm, lãi suất quá hạn là 150% lãi suất cho vay ngay trước thời điểm phát sinh nợ quá hạn, lãi suất chậm trả lãi 10%/năm tính trên số dư lãi chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả lãi. Đối chiếu với quy định của pháp luật ngân hàng tại khoản 01 Điều 13 thông tư 39/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016 quy định “Tổ chức tín dụng và khách hàng thỏa thuận về lãi suất cho vay theo cung cầu vốn thị trường, nhu cầu vay vốn và mức độ tín nhiệm của khách hàng…” và khoản 2 Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 quy định “ Tổ chức tín dụng và khách hàng có quyền thỏa thuận về lãi suất …theo quy định pháp luật”. Theo khoản 4.5; 4.6 Điều 4, Điều 9 của hợp đồng về mức lãi suất cho vay. Do đó, việc ngân hàng yêu cầu Nguyễn Văn Quận và bà Lê Thị Nhị phải có trách nhiệm trả tiền lãi từ ngày 10/11/2020 đến ngày tòa án xét xử sơ thẩm 30/9/2022 lãi trong hạn 616.845đ, tiền lãi quá hạn 6.901.825đ, lãi chậm trả lãi 59.995đ là phù hợp.
Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong, bị đơn còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất các bên đã thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất theo từng thời kỳ của ngân hàng cho vay thì lãi suất mà bị đơn phải tiếp tục thanh toán cho ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của ngân hàng cho vay.
Về án phí dân sự sơ thẩm: Bị đơn phải chịu theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các Điều 26, 35, 39, 91, 271, 273, 227, 228 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 463, 466, 468 Bộ luật dân sự; Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí của Tòa án.
Tuyên xử:
[1] Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng thương mại cổ phần Bưu Điện Liên Việt.
Buộc ông Nguyễn Văn Quận và bà Lê Thị Nhị và có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng thương mại cổ phần Bưu Điện Liên Việt số tiền tổng cộng 23.015.836đ (trong đó nợ gốc 15.437.171đ, lãi trong hạn 616.845đ, tiền lãi quá hạn 6.901.825đ, lãi chậm trả lãi 59.995đ).
Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong, bị đơn còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất các bên đã thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất theo từng thời kỳ của ngân hàng cho vay thì lãi suất mà bị đơn phải tiếp tục thanh toán cho ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của ngân hàng cho vay.
[2] Về án phí dân sự sơ thẩm: Ông ông Nguyễn Văn Quận và bà Lê Thị Nhị phải nộp số tiền 1.150.000đ (Một triệu, một trăm năm mươi nghìn đồng). Ngân hàng thương mại cổ phần Bưu Điện Liên Việt được nhận lại 1.385.000 đồng (Một triệu, ba trăm tám mươi lăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tiền số 0002759, ngày 07 tháng 4 năm 2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện vị Thủy tỉnh Hậu Giang.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án, hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
[3] Nguyên đơn được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết tại địa phương nơi cư trú.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - Các đương sự; - TAND tỉnh Hậu Giang; - VKSND huyện Vị Thủy; - Chi cục THADS huyện Vị Thủy; - Cổng TTĐT Tòa án; - Lưu. | THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Đã ký Đào Thị Thủy |