- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án dân sự — "hợp hợp đồng tín dụng"
- Tòa quyết gì? Áp dụng: Khoản 3 Điều 26; 35, 39, 147, 227, 228, 235, 266, 271 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 280, 466 của Bộ luật dân sự; Điều 91, 95 của Luật các tổ chức tín dụng; Thông tư số 39/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016 của Ngân hàng nhà nước quy định về hoạt động cho vay của…
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự và Nghị; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN THIẾT TỈNH BÌNH THUẬN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 44/2022/DS-ST Ngày: 27-9-2022 Về việc: “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN THIẾT
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Quách Văn Hoàng
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Bính
2. Bà Lưu Thị Thôi
Đại diện Việt kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết tham gia phiên tòa: Bà Cao Thị Hường – Kiểm sát viên.
Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Nhàn – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận.
Ngày 27 tháng 9 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 150/2022/TLST-DS ngày 15 tháng 6 năm 2022 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 266/2022/QĐXXST-DS ngày 24 tháng 8 năm 2022 và Quyết định hoãn phiên tòa số 299/2022/QĐST-DS ngày 12 tháng 9 năm 2022, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Ngân hàng T
Địa chỉ trụ sở chính: Số 266-268 Nam Kỳ Khởi Nghĩa, phường 8, quận 3, Tp Hồ Chí Minh.
Người đại diện theo ủy quyền tham gia tố tụng: Bà Nguyễn Thị Hồng Th, chức vụ: Chuyên viên phòng kiểm soát rủi ro Ngân hàng T chi nhánh Bình Thuận theo Văn bản ủy quyền số 1436/2021/GUQ-CNBT ngày 30 tháng 12 năm 2021.
Bị đơn: Bà Huỳnh Thị Mỹ Ng, sinh năm 1995
Nơi cư trú: Khu phố 01, phường Đức Long, Tp Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận.
Tại phiên tòa có mặt bà Thủy, vắng mặt Bà Ng.
NỘI DUNG VỤ ÁN
* Theo đơn khởi kiện, bản tự khai của người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn Bà Nguyễn Thị Hồng Th trình bày:
Do nhu cầu vay vốn nên Bà Huỳnh Thị Mỹ Ng có vay vốn tại Ngân hàng T theo Hợp đồng cho vay kiêm giấy nhận nợ số LD1927700218 ngày 04/10/2019, với các nội dung như sau:
Số tiền vay: 50.000.000 đồng.
Mục đích vay: Tiêu dùng.
Thời hạn vay vốn: 03 năm, từ ngày 04/10/2019 đến ngày 04/10/2022.
Lãi suất: 03 tháng đầu tiên: 25%/năm.
Từ tháng thứ 04 kể từ ngày ký hợp đồng vay, lãi suất của toàn bộ dư nợ vay được áp dụng theo lãi suất huy động tiết kiệm cá nhân VNĐ 13 tháng trả lãi cuối kỳ của ngân hàng cộng với biên độ 17%/năm và được ngân hàng quyết định điều chỉnh theo định kỳ 03 tháng/lần và phù hợp với quy định của ngân hàng nhà nước về lãi suất cho vay, lãi suất điều chỉnh trong từng thời
Phương thức trả nợ: Gốc được chia thành nhiều kỳ trả nợ, lãi trả vào ngày 04 hàng tháng, mỗi tháng trả 1.389.000 đồng.
Bà Ng đã trả số nợ gốc là 26.391.000 đồng, lãi đã trả từ ngày 04/10/2019 đến ngày 03/5/2021.
Khoản vay đã bị quá hạn từ kỳ thanh toán gốc lãi ngày 04/6/2021 nên Ngân hàng đã chuyển thành nợ quá hạn và yêu cầu Bà Ng trả nợ nhưng vẫn không thực hiện.
Tính đến ngày 27/9/2022, Bà Ng còn nợ Ngân hàng tổng số tiền là 33.456.112 đồng, trong đó nợ gốc 23.609.000 đồng, nợ lãi 9.847.112 đồng.
Nay Ngân hàng yêu cầu Bà Huỳnh Thị Mỹ Ng trả tổng số tiền tính đến ngày 27/9/2022 là 33.456.112 đồng, trong đó nợ gốc 23.609.000 đồng, nợ lãi 9.847.112 đồng và kể từ ngày 28/9/2022 Bà Ng phải chịu lãi phát sinh theo thỏa thuận của hợp đồng đã ký kết cho đến khi trả hết nợ cho Ngân hàng.
Bị đơn đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng vẫn không trình bày cũng như cung cấp chứng cứ để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho mình.
Vụ án không tiến hành hòa giải được do bị đơn không đến tòa và đại diện của nguyên đơn có đơn đề nghị không tiến hành hòa giải.
Sau khi những người tham gia tố tụng trình bày ý kiến, vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký, của nguyên đơn kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đúng trình tự, thủ tục do Bộ luật tố tụng dân sự quy định. Bị đơn chấp hành chưa tốt các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về phần nội dung vụ án đề nghị Hội đồng xét xử theo hướng chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Buộc bị đơn phải có trách nhiệm trả cho Ngân hàng số tiền gốc là 23.609.000 đồng, tiền lãi tính đến ngày 27/9/2022 là 9.847.112 đồng và tiền lãi phát sinh kể từ ngày 28/9/2022 cho đến khi trả hết nợ cho Ngân hàng theo hợp đồng do hai bên ký kết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ, vụ án được thẩm tra tại phiên tòa Hội đồng xét xử xét thấy:
Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết: Ngân hàng yêu cầu Bà Huỳnh Thị Mỹ Ng trả nợ, Bà Ng có nơi cư trú tại thành phố Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận. Vì vậy, hội đồng xét xử xác định quan hệ pháp luật là tranh chấp hợp đồng dân sự, cụ thể là “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” được quy định tại khoản 3 Điều 26 Bộ luật tố tụng dân sự và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
Về thủ tục tố tụng: Bà Huỳnh Thị Mỹ Ng đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai để tham gia phiên tòa nhưng vẫn vắng mặt không có lý do; Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự. Hội đồng xét xử xử vắng mặt Bà Ng.
Về nội dung yêu cầu khởi kiện:
Xét Hợp đồng cho vay kiêm giấy nhận nợ số LD1927700218 ngày 04/10/2019 giữa ngân hàng với Bà Ng đều được ký bởi người đại diện hợp pháp của bên cho vay là ngân hàng với bên vay là Bà Ng. Các bên tham gia hợp đồng có đủ năng lực hành vi dân sự, trên cơ sở tự nguyện, các thỏa thuận có nội dung và mục đích để thực hiện nhu cầu của mỗi bên, không vi phạm điều cấm của luật và không trái đạo đức xã hội. Hình thức hợp đồng phù hợp với quy định của pháp luật. Do đó, hợp đồng có hiệu lực buộc các bên phải thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ của mình quy định tại hợp đồng. Ngân hàng đã giải ngân khoản tiền vay cho Bà Ng. Vì vậy, Hợp đồng cho vay kiêm giấy nhận nợ này có hiệu lực pháp luật, đã làm phát sinh quyền và nghĩa vụ pháp lý ràng buộc các bên giao kết phải thực hiện.
Khoản vay của Bà Ng hiện tại vẫn do Ngân hàng quản lý, chưa bán hoặc chuyển giao quyền đòi nợ cho bất kỳ tổ chức, cá nhân nào. Do vậy, Ngân hàng có quyền khởi kiện đòi nợ đối với Bà Ng khi có vi phạm. Quá trình giải quyết vụ án, bị đơn không có ý kiến gì đối với yêu cầu khởi kiện và các tài liệu, chứng nộp kèm theo đơn khởi kiện của nguyên đơn; không cung cấp tài liệu, chứng cứ gì để chứng minh đã thanh toán số tiền vay, tiền lãi của hợp đồng nói trên. Vì vậy, Hội đồng xét xử có căn cứ khẳng định Bà Ng chưa thanh toán tiền nợ gốc và tiền lãi phát sinh theo như nguyên đơn đã trình bày và yêu cầu.
Về lãi suất: Lãi suất giữa hai bên thỏa thuận trong hợp đồng là phù hợp với quy định tại Điều 13 Thông tư số 39/2016/TTNHNN ngày 30/12/2016 của Ngân hàng nhà nước quy định về hoạt động cho vay của Tổ chức tín dụng, chi nhánh Ngân hàng nước ngoài đối với khách hàng và Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng. Vì vậy, yêu cầu tính lãi suất của Ngân hàng được chấp nhận.
Do Bà Ng đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán nên đã vi phạm hợp đồng. Căn cứ vào Điều 280, khoản 1 Điều 466 của Bộ luật dân sự, Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng T, buộc Bà Ng phải trả toàn bộ số tiền gốc và lãi phát tính đến ngày 27/9/2022 là 33.456.112 đồng, trong đó nợ gốc 23.609.000 đồng, nợ lãi 9.847.112 đồng và tiếp tục chịu tiền lãi theo mức lãi suất mà các bên đã thỏa thuận trong hợp đồng kể từ ngày 28/9/2022 cho đến khi trả hết nợ.
Về án phí: Do yêu cầu khởi kiện của ngân hàng được chấp nhận nên căn cứ vào Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án thì ngân hàng không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm; Bà Ng phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng: Khoản 3 Điều 26; 35, 39, 147, 227, 228, 235, 266, 271 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 280, 466 của Bộ luật dân sự; Điều 91, 95 của Luật các tổ chức tín dụng; Thông tư số 39/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016 của Ngân hàng nhà nước quy định về hoạt động cho vay của Tổ chức tín dụng, chi nhánh Ngân hàng nước ngoài đối với khách hàng; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; Luật thi hành án dân sự.
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng T.
Buộc Bà Huỳnh Thị Mỹ Ng phải trả cho Ngân hàng T tổng số tiền nợ gốc và lãi tính đến ngày 27/9/2022 là 33.456.112 đồng (trong đó nợ gốc 23.609.000 đồng, nợ lãi 9.847.112 đồng).
Kể từ ngày 28/9/2022, Bà Huỳnh Thị Mỹ Ng còn phải tiếp tục chịu tiền lãi theo mức lãi suất mà các bên đã thỏa thuận theo hợp đồng đã ký kết trên số tiền còn nợ cho đến khi trả hết nợ.
Về án phí: Bà Huỳnh Thị Mỹ Ng phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 1.672.806 đồng. Hoàn lại số tiền tạm ứng án phí 740.000 đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0009795 ngày 13/6/2022 tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Phan Thiết cho Ngân hàng T.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Ngân hàng T có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 12/9/2022); Bà Huỳnh Thị Mỹ Ng có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày niêm yết bản án.
| Nơi nhận: - Các đương sư; - VKSND Tp PT; - CCTHADS Tp PT; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa ĐÃ KÝ Quách Văn Hoàng |