- Tranh chấp gì? án hình sự — "Đỗ Trung T - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc | |
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TIỀN HẢI TỈNH THÁI BÌNH Bản án số: 44 /2021/ HSST Ngày: 12 / 8 / 2021. |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TIỀN HẢI, TỈNH THÁI BÌNH
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Hải Bảo.
Các hội thẩm nhân dân: - Ông Trần Văn Hiểu;
- Bà Vũ Thị Hiền.
Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Trần Thị Yến - Thư ký Tòa án.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiền Hải tham gia phiên tòa:
Bà Đỗ Thị Luyên - Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 8 năm 2021 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình. Tòa án nhân dân huyện Tiền Hải mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 39/ 2021/ HSST ngày 18/6/2021 đối với:
Bị cáo Đỗ Trung T - Sinh ngày: 08/10/1991. Giới tính: Nam.
Nơi ĐKHK và cư trú: Thôn Đ, xã Đ, huyện T, tỉnh Thái Bình; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 09/12; Con ông Đỗ Trung T1 (Đã chết); Con bà Bùi Thị N - Sn: 1953; Vợ: Súng Thị N1 - Sn: 1993; Có 01 con sinh năm 2021; Đều trú tại xã Đ, huyện T. Tiền sự: Không; Tiền án: Không. Đỗ Trung T bị tạm giữ từ ngày 05/5/2021 đến nay. (Bị cáo có mặt).
*Ngƣời làm chứng: - Ông Nguyễn Trung T1 - Sn: 1956. (Vắng mặt).
- Ông Tô Quang D - Sn: 1961. (Vắng mặt). Đều trú tại: Thôn L, xã T, huyện T, tỉnh Thái Bình.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do nghiện ma túy nên khoảng 11h00’ ngày 05/5/2021, T đi nhờ xe của 01 người đàn ông không quen biết, đi từ nhà đến khu vực cầu Trà Lý để tìm mua ma túy; Tại đây T gặp một người đàn ông không rõ tên, tuổi, địa chỉ hỏi mua ma túy; Người đàn ông này đồng ý bán; T đưa cho người đàn ông 200.000 đồng để mua ma túy. Người đàn ông nhận tiền và đưa lại cho T 01 gói được gói bằng giấy tráng kim màu trắng; Biết đó là ma túy, T nhận và cất vào túi quần bên phải, phía trước đang mặc, rồi đi tìm nơi sử dụng. Khi T đi đến trước cửa quán sửa xe máy Đức Trung thuộc thôn L, xã T thì bị lực lượng Công an huyện Tiền Hải phát hiện và yêu cầu làm việc. Qua giải thích, T khai nhận đang tàng trữ trái phép chất ma túy; Công an huyện Tiền Hải đã dẫn giải T và mời các người làm chứng về trụ sở UBND xã T, huyện T để kiểm tra, làm rõ. Qúa trình Kiểm tra, Đỗ Trung T tự giác lấy từ túi quần bên phải, phía trước đang mặc 01 gói được gói bằng giấy tráng kim mầu trắng, mở ra bên trong có chất bột mầu trắng dạng cục và 02 ống Nôvôcain 3% + 02 bơm kim tiêm chưa qua sử dụng là dụng cụ T dùng để sử dụng ma túy giao nộp cho Công an huyện Tiền Hải. Cơ quan điều tra - Công an huyện Tiền Hải đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, Biên bản quản lý, niêm phong vật chứng.
Bản cáo trạng số: 39/CT- VKS ngày 17/6/2021 VKSND huyện Tiền Hải truy tố Đỗ Trung T về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo điểm c khoản 1 điều 249 BLHS. Tại phiên tòa T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như bản cáo trạng đã nêu. Đại diện VKSND huyện Tiền Hải luận tội, tranh luận và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 điều 249; điểm s khoản 1 điều 51; điều 38; điều 50 BLHS. Đề nghị xử phạt Đỗ Trung T từ 01 năm 03 tháng đến 01 năm 06 tháng tù. Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng vì Đỗ Trung T là con nghiện và không có công việc ổn định. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 BLHS; Khoản 2 Điều 106 BLTTHS. Đề nghị: Tịch thu tiêu hủy số Hêrôin thu giữ của Đỗ Trung T; Sau giám định còn lại 0,1434 gam Hêrôin cùng bao gói; 02 ống Nôvôcain 3% ; 02 bơm kim tiêm chưa qua sử dụng. Về án phí: Bị cáo Đỗ Trung T phải chịu 200.000 đồng án phí HSST theo quy định của pháp luật.
Bị cáo không tranh luận gì với bản luận tội của Kiểm sát viên. Bị cáo đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng: Hành vi, quyết định của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử vụ án được thực hiện đúng theo quy định của pháp luật về thẩm quyền, trình tự, thủ tục nên các hành vi, quyết định tố tụng trong vụ án này là hợp pháp. Bị cáo không khiếu nại hay có ý kiến gì.
Về căn cứ kết tội đối với bị cáo: Xét thấy lời khai nhận tội của Đỗ Trung T tại phiên tòa phù hợp với lời khai của các người làm chứng và được chứng minh bằng: Biên bản bắt người phạm tội quả tang; Biên bản tạm giữ đồ vật, tài liệu; Biên bản niêm phong tài liệu, đồ vật; Bản kết luận giám định số: 163/KLGĐMT- PC09 ngày 06/5/2021 của phòng kỹ thuật hình sự Công an Thái Bình kết luận: “Mẫu vật gửi giám định là ma túy loại Heroine (Hêrôin) có khối lượng 0,1876 gam”; Và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án; Nên Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 11h30’ ngày 05/5/2021, tại khu vực trước cửa quán sửa xe máy Đức Trung thuộc thôn L, xã T, huyện T; Công an huyện Tiền Hải đã phát hiện, bắt quả tang Đỗ Trung T có hành vi tàng trữ trái phép 01 gói Hêrôin có tổng khối lượng là 0,1876 gam, mục đích để sử dụng cho bản thân. Hành vi của Đỗ Trung T đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 điều 249 của Bộ luật hình sự.
“Điều 249: Tội tàng trữ trái phép chất ma túy;
1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
………………………………………….
c) Heroine, Cocaine,……...…., có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;
…………………………………………..
5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.”
Về tính chất, mức độ hậu quả hành vi phạm tội của bị cáo: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý chất ma túy của nhà nước, làm suy thoái nòi giống con người, gây hậu quả nghiêm trọng, ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự và an toàn xã hội tại địa phương.
Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Về tình tiết tăng nặng: Đỗ Trung T không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào quy định điều 52 BLHS.
Về tình tiết giảm nhẹ: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa hôm nay, T đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình. Vì vậy, Đỗ Trung T được hưởng 01 tình tiết giảm nhẹ TNHS quy định tại điểm s khoản 1 điều 51 BLHS.
Về hình phạt:
Hình phạt chính: Căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ TNHS đối với bị cáo; Xét thấy, ma túy luôn là hiểm họa của toàn xã hội, là nguyên nhân gây ra các loại tội phạm khác; Bị cáo biết rõ tác hại của ma túy nhưng T vẫn cố tình phạm tội. Do đó, hành vi phạm tội của Đỗ Trung T cần thiết phải xử phạt nghiêm minh bằng hình phạt tù, phải tiếp tục cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định, tương xứng với tính chất, mức độ phạm tội do bị cáo gây ra, mới có tác dụng cải tạo, giáo dục bị cáo và đấu tranh phòng ngừa tội phạm chung.
Hình phạt bổ sung:
Xét thấy, T là người nghiện ma túy, không có việc làm ổn định; Nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với Đỗ Trung T.
Về vật chứng của vụ án: Đối với 0,1876 gam Hêrôin thu giữ của T; Sau giám định còn lại là 0,1434 gam Hêrôin cùng bao gói; 02 ống Nôvôcain 3% và 02 bơm kim tiêm chưa qua sử dụng. Xét thấy số Hêrôin trên là vật nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành; 02 ống Nôvôcain 3% và 02 bơm kim tiêm không còn giá trị; Nên cần tịch thu tiêu hủy theo quy định tại điều 47 BLHS và khoản 2 điều 106 BLTTHS.
Về các vấn đề khác: Về nguồn gốc 0,1876 gam Hêrôin: Đỗ Trung T khai toàn bộ số ma túy mà Công an huyện Tiền Hải thu giữ là do T mua của 01 người đàn ông không biết họ tên, tuổi, địa chỉ ở khu vực cầu Trà Lý thuộc địa phận xã T, huyện T vào ngày 05/5/2021. Do vậy, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Tiền Hải không có đủ cơ sở điều tra, xác minh làm rõ người đàn ông đã bán ma túy cho Đỗ Trung T để xử lý theo quy định của pháp luật.
[ 8] Về án phí:
Bị cáo Đỗ Trung T phải chịu án phí HSST theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm c khoản 1 điều 249; điểm s khoản 1 điều 51; điều 50; điều 38; điều 47 BLHS; Khoản 2 điều 106; điều 136; điều 331; điều 333 BLTTHS; Khoản 1 điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/ UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
1./ Về tội danh:
Tuyên bố: Bị cáo Đỗ Trung T phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.
2./ Về hình phạt:
- Xử phạt bị cáo Đỗ Trung T 01 (Một) năm 03 (Ba) tháng tù.
- Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ; Ngày 05 tháng 5 năm 2021.
3./ Về vật chứng:
Tịch thu của Đỗ Trung T: 02 ống Nôvôcain 3% ; 02 bơm kim tiêm; 0,1876 gam Hêrôin, (Sau giám định còn lại 0,1434 gam Hêrôin) để tiêu hủy cùng bao gói.
(Toàn bộ vật chứng trên đã chuyển đến Chi cục THADS huyện Tiền Hải quản lý theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 17/6/2021).
4./ Về án phí:
Bị cáo Đỗ Trung T phải nộp 200.000 đồng án phí Hình sự sơ thẩm.
5./ Về quyền kháng cáo:
Bị cáo Đỗ Trung T có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, ngày 12/8/2021.
T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
| Nơi nhận: - Bị cáo; Người LQ; - VKSND h Tiền Hải; Công an huyện TH; TAND t Thái Bình; Chi cục THADS TH; Lưu hồ sơ, VP; | ( đã ký) Phạm Hải Bảo |