- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn T phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều c…"
- Tòa quyết gì? * Căn cứ điểm o khoản 2 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51; điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự.
- Căn cứ chính? Điều 249 Bộ luật Hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KIM ĐỘNG TỈNH HƯNG YÊN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 44/2021/HSST Ngày: 25-10-2021 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KIM ĐỘNG - TỈNH HƯNG YÊN
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Tiến Lũng.
Các hội thẩm nhân dân:
Ông: Vũ Quang Nguyên;
Bà: Nguyễn Thị Thược.
Thư ký phiên toà: Ông Đỗ Văn Quyền - Thẩm tra viên Tòa án.
Đại diện VKSND huyện tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Yến - KSV.
Ngày 25 tháng 10 năm 2021 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Kim Động, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 40/2021/HSST ngày 05 tháng 10 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 44/HSST ngày 14 tháng 10 năm 2021 đối với:
1. Bị cáo: Nguyễn Văn T, Sinh năm 1993; Sinh trú quán: Thôn T, xã T, huyện K, tỉnh Hưng Yên; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Trồng trọt; Trình độ văn hóa: 10/12; Con ông: Nguyễn Văn T, sinh năm 1968; con bà: Nguyễn Thị T, sinh năm 1976; Tiền án: Ngày 10/3/2015 bị Tòa án nhân dân huyện K, tỉnh Hưng Yên xử phạt 02 năm 03 tháng tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy; Ngày 20/4/2018 bị Tòa án nhân dân huyện K, tỉnh Hưng Yên xử phạt 03 năm tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy; Tiền sự: không; Nhân thân: Ngày 19/12/2013 bị Công an huyện K, tỉnh Hưng Yên xử phạt hành chính về hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy. Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 26/3/2021 sau đó chuyển tạm giam ngày 01/4/2021. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Hưng Yên. Có mặt
2. Những người làm chứng:
- Anh Vũ Văn H, sinh năm 1996; Vắng mặt
- Anh Tạ Văn H, sinh năm 1981. Vắng mặt
Đều trú tại: Thôn V, xã Đ, huyện K, tỉnh Hưng Yên.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 18 giờ 40 phút ngày 26/3/2021 tại thôn V, xã Đ, huyện K, tỉnh Hưng Yên. Công an huyện K phát hiện, bắt quả tang đối tượng Nguyễn Văn T, sinh năm 1993 ở thôn T, xã T, huyện K, tỉnh Hưng Yên có hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy. Quá trình kiểm tra T tự lấy trong túi quần bên phải 01 túi nilon trong suốt, bên trong có chất kết tinh màu trắng. T khai nhận đó là ma túy đá vừa mua về để sử dụng. Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện K đã tiến hành thu giữ, gói ma túy của T (được niêm phong ký hiệu MT). Ngoài ra, Công an huyện K còn quản lý 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Dream không gắn biển số.
Ngày 27/3/2021, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện K đã tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của T tại thôn T, xã T, huyện K nhưng không thu giữ được vật chứng, đồ vật gì có liên quan đến vụ án.
Kết luận giám định số 96/MT - PC09 ngày 30/3/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Hưng Yên, kết luận: Mẫu chất dạng tinh thể màu trắng trong phong bì niêm phong ghi ký hiệu MT, có khối lượng là 1,662 gam, là ma túy, là loại Methamphetamine.
Kết luận giám định số 4671/C09-P6 ngày 06/8/2021 của Viện khoa học hình sự
- Bộ Công an, kết luận: Không phát hiện dấu vết cắt ghép, chỉnh sửa nội dung trong tệp video gửi giám định.
Quá trình điều tra T khai nguồn gốc số ma túy mà Công an thu giữ là vào khoảng 17 giờ cùng ngày, T đang ở nhà thì có bạn tên là B ở xã Đ, huyện K, tỉnh Hưng Yên điều khiển xe mô tô (không có biển số) đến chơi. Sau đó, T rủ B lên khu vực chợ Đ, huyện K để chơi, B điều khiển xe mô tô chở T đến chợ Đ thì T nhìn thấy một người đàn ông trông giống người nghiện ma túy, T xuống xe, đi một mình đến chỗ người đàn ông đó hỏi “anh có ma túy bán không” thì người đàn ông trả lời “bán cho ai, mua bao nhiêu”, T nói “bán cho em 1.000.000 đồng”. T đưa tiền cho người đàn ông cầm, người này đưa cho T 01 túi nilon trong suốt, bên trong chứa chất kết tinh màu trắng là ma túy đá. T cất túi nilon ma túy vào túi quần bên phải rồi đi ra chỗ B bảo B đưa T về nhà bạn là anh Vũ Văn H, sinh năm 1996 ở thôn V, xã Đ, huyện K để chơi, khi B chở T về đến cổng nhà anh H thì bị tổ công tác của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện K phát hiện bắt giữ được T, còn B để lại xe rồi bỏ chạy thoát.
Trong quá trình điều tra, Nguyễn Văn T đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.
Đối với người tên B điều khiển xe mô tô chở T đi mua ma túy, do T khai xác định B không biết việc T mua, giấu ma túy trong người. Cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh người tên B tại xã Đ, huyện K nhưng không xác định được người tên B như T khai nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện K không có căn cứ để xác minh, xử lý.
Đối với người đàn ông đã bán ma túy cho T, do T khai không biết tên, tuổi và địa chỉ cụ thể của người này ở đâu nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện K không có căn cứ xác minh để xử lý.
Vật chứng của vụ án:
- Mẫu vật hoàn lại sau giám định được niêm phong trong phong bì, bên trong có 1,562 gam ma túy loại Methamphetamine đã nhập kho vật chứng thuộc Công an huyện;
- 02 USB (Trong đó: 01 USB video hình ảnh T tự lấy ma túy trong túi quần ra giao nộp; 01 USB ghi âm hỏi cung bị can T) được chuyển theo hồ sơ vụ án.
- Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Dream, không gắn biển số, Cơ quan điều tra đã tiến hành tra cứu xác định xe có biển số 30X8-2662, chủ xe là ông Dương Văn C, sinh năm 1945 ở thôn P, xã B, huyện Đ, thành phố Hà Nội, kết quả tra cứu không có trong cơ sở dữ liệu xe máy vật chứng. Ông C xác định đã bán chiếc xe trên cho anh Phan Văn B, sinh năm 1977 ở cùng thôn. Anh B xác định sau khi mua chiếc xe trên của ông C được một thời gian thì anh B bán chiếc xe trên cho một người đàn ông không quen biết. Cơ quan điều tra tiến hành cho T nhận dạng anh Phan Văn B qua hình ảnh thì T xác định không phải là B (bạn của T). Do vậy, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện K đã tách chiếc xe mô tô trên và tiếp tục xác minh làm rõ sẽ xử lý theo quy định pháp luật.
Cáo trạng số: 42/CT-VKSKĐ ngày 04/10/2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Kim Động đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo điểm o khoản 2 điều 249 Bộ luật hình sự.
Tại phiên toà hôm nay:
- Bị cáo thành khẩn khai báo toàn bộ hành vi phạm tội do mình gây ra. Bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất để bị cáo sớm được trở về với gia đình và hòa nhập cộng đồng.
*Tại phiên tòa, đại diện viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận.
Tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay bị cáo thành khẩn khai nhận về hành vi phạm tội của mình. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh chính trị tại địa phương, gây bức xúc trong quần chúng nhân dân. Hành vi phạm tội của bị cáo có đủ yếu tố cấu thành tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Do đó Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố đối với Nguyễn Văn T về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" và đề nghị Hội đồng xét xử:
Căn cứ điểm o khoản 2 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51; điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự. Điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
- Đề nghị tuyên bố bị cáo: Nguyễn Văn T phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý".
- Đề nghị xử phạt bị cáo: Nguyễn Văn T từ 05 năm đến 05 năm 06 tháng tù, thời hạn tù kể từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ 26/3/2021.
- Vật chứng:
+ Đề nghị tịch thu tiêu huỷ 1,562 gam là ma túy, loại Methamphetamine được niêm phong trong 01 phong bì là mẫu vật hoàn lại sau giám định;
+ Đề nghị lưu giữ trong hồ sơ vụ án 02 chiếc USB có liên quan đến vụ án.
+ Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Dream, không gắn biển số. Quá trình điều tra chưa xác định được người chủ sở hữu là ai, ở đâu. Do vậy Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện K đã tách ra để tiếp tục xác minh làm rõ và xem xét giải quyết theo thẩm quyền.
- Hình phạt bổ sung: Do bị cáo không có tài sản riêng và không có thu nhập ổn định nên đề nghị xét miễn hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.
Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất để bị cáo sớm được trở về với gia đình và hòa nhập cộng đồng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện K, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện K, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Lời nhận tội của bị cáo tại phiên toà hôm nay hoàn toàn phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, những người làm chứng, biên bản khám xét, kết luận giám định và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 18 giờ 40 phút ngày 26/3/2021 tại thôn V, xã Đ, huyện K, tỉnh Hưng Yên. Nguyễn Văn T đã có hành vi Tàng trữ trái phép 1,662 gam ma túy loại Methamphetamine nhằm mục đích để sử dụng thì bị bắt quả tang, bị cáo phạm tội thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm. Đây là tình tiết định khung hình phạt quy định tại khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự nên Hành vi nêu trên của bị cáo đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm o khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố bị cáo theo tội danh và Điều luật viện dẫn trên là có căn cứ và đúng pháp luật.
Xét về tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy. Ma túy là chất gây nghiện nguy hiểm, ma túy không chỉ làm suy kiệt về sức lao động mà nó còn có thể làm hạn chế hoặc mất đi khả năng điều khiển hành vi của con người và là nguyên nhân nảy sinh các loại tội phạm khác, làm đổ vỡ hạnh phúc gia đình, gây mất trật tự trị an trong xã hội, gây bất bình trong dư luận quần chúng nhân dân. Bị cáo là đối tượng nghiện chất ma túy từ rất lâu, để thỏa mãn cơn nghiện bị cáo đã thực hiện hành vi phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Do vậy để cải tạo giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt và có ích cho gia đình và xã hội cần phải tuyên phạt bị cáo một hình phạt nhất định tương xứng với hành vi phạm tội mà bị cáo gây ra.
Khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử có xem xét đến nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo:
+ Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân rất xấu Ngày 19/12/2013 bị Công an huyện K ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; Ngày 10/3/2015 bị Tòa án nhân dân huyện K, tỉnh Hưng Yên xử phạt 02 năm 03 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; Ngày 20/4/2018 bị Tòa án nhân dân huyện K, tỉnh Hưng Yên xử phạt 03 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tại bản án này Tòa án nhân dân huyện K đã áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là tái phạm, bị cáo chưa được xóa án tích.
+ Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
+ Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên toà hôm nay bị cáo thành khẩn khai nhận về hành vi phạm tội mà mình đã gây ra, đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mà bị cáo được hưởng quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Căn cứ vào nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mà bị cáo được hưởng, mức độ nguy hiểm do hành vi phạm tội mà bị cáo đã gây ra. Hội đồng xét xử nhận thấy để giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt, có ích cho gia đình và xã hội cần tuyên phạt bị cáo một hình phạt nghiêm khắc tương xứng với hành vi phạm tội mà bị cáo đã gây ra và cách li bị cáo khỏi đời sống xã hội một thời gian dài mới đủ răn đe giáo dục đối với bị cáo.
Hình phạt bổ sung: Do bị cáo không có tài sản riêng và không có thu nhập ổn định nên xét miễn hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo là phù hợp.
Vật chứng của vụ án: Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong hoàn mẫu vật sau giám định, bên trong có 1,562 gam là ma túy, loại Methamphetamine.
(Đặc điểm theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 12/10/2021 giữa Công an huyện K và Chi cục thi hành án dân sự huyện K)
+ Lưu giữ trong hồ sơ vụ án 02 chiếc USB có liên quan đến vụ án.
+ Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Dream, không gắn biển số. Quá trình điều tra chưa xác định được người chủ sở hữu là ai, ở đâu. Do vậy Cơ quan cảnh sát điều tra đã tách ra để tiếp tục xác minh làm rõ và xem xét giải quyết theo thẩm quyền nên không đặt ra giải quyết.
Án phí: Bị cáo phải chịu án phí sơ thẩm hình sự theo Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH:
* Căn cứ điểm o khoản 2 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51; điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự. Điểm a khoản 2 Điều 106; khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự. Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
*Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý".
*Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn T 05 (năm) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ 26/3/2021.
*Vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong hoàn mẫu vật sau giám định, bên trong có 1,562 gam là ma túy, loại Methamphetamine.
(Đặc điểm theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 12/10/2021 giữa Công an huyện K và Chi cục thi hành án dân sự huyện K)
+ Lưu giữ trong hồ sơ vụ án 02 chiếc USB có liên quan đến vụ án.
* Hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.
* Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí sơ thẩm hình sự.
* Quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - Phòng KTNV và THA - Tòa án tỉnh; - Phòng nghiệp vụ hồ sơ - CA tỉnh; - VKS - CA - THA huyện; - Người tham gia tố tụng; - Lưu hồ sơ; | THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Tiến Lũng |