- Tranh chấp gì? án hình sự — "Bùi Vĩnh H cùng đồng bọn phạm tội "Đánh bạc" - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Bùi Vĩnh H; Phan Văn C; Phan Hồng B; Hoàng Bá Danh phạm tội "Đánh bạc".
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự tuyên; Điều 51 Bộ luật Hình sự phạt bằng tiền; Điều 47 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CX TỈNH HÀ TĨNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 44/2021/HSST Ngày: 09/7/2021 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CX, TỈNH HT
Với thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Trần Thị Minh T
- Các Hội thẩm nhân dân: Ông Dương Hữu T – Ông Phan Công L
- Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Ông Lê Hồng D - Cán bộ Tòa án nhân dân huyện CX, tỉnh HT.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện CX, tỉnh HT tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Văn T – Chức vụ: Kiểm Sát viên.
Chiều ngày 09 tháng 7 năm 2021, tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân huyện CX mở phiên toà công khai xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 38 ngày 08/6/2021. Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 44/HSST, ngày 23 tháng 06 năm 2021 của Toà án nhân dân huyện CX đối với các bị cáo:
1. Họ và tên: Bùi Vĩnh H; Sinh ngày 10 tháng 05 năm 1964; Tại: xã Cẩm Dương, huyện CX, tỉnh HT; Nơi đăng ký HKTT: thôn Bắc Thành, xã Cẩm Dương, huyện CX, tỉnh HT; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ văn hoá: Lớp 7/10; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Chức vụ, đảng phái: Quần chúng; Bố: Bùi Vĩnh B, Sinh năm 1940; Nghề nghiệp: Làm ruộng; Mẹ: Đặng Thị M; Sinh năm 1934; Nghề nghiệp: Làm ruộng; Hiện trú tại thôn Bắc Thành, xã Cẩm Dương, huyện CX, tỉnh HT; Vợ: Hoàng Thị Nam; Sinh năm 1968; Nghề nghiệp: ở nhà nội trợ; Hiện trú tại thôn Bắc Thành, xã Cẩm Dương, huyện CX, tỉnh HT; Con: có 03 đứa, lớn nhất sinh năm 1991, nhỏ nhất sinh năm 1997; Anh chị em ruột có 05 người, bị cáo là con thứ ba; Tiền án, tiền sự: Không; Biện pháp ngăn chặn: Bị cáo Bùi Vĩnh H bị tạm giữ từ ngày 19/3/2021, đến ngày 21/3/2021 bị khởi tố bị can và áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú’’ cho đến nay, có mặt tại phiên tòa.
2. Họ và tên: Phan Văn C; Sinh ngày 05 tháng 03 năm 1959; Tại: xã Cẩm Dương, huyện CX, tỉnh HT; Nơi đăng ký HKTT: thôn Trung Đoài, xã Cẩm Dương, huyện CX, tỉnh HT; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ văn hoá: Lớp 10/10; Nghề nghiệp: Hưu trí (Thương binh); Chức vụ, đảng phái: Đảng viên Đảng cộng sản Việt Nam, sinh hoạt tại Chi bộ thôn Trung Đoài, thuộc Đảng bộ xã Cẩm Dương, huyện CX, tỉnh HT; Đã bị đình chỉ sinh hoạt Đảng theo quyết định số 15-QĐ/UBKTHU ngày 29/3/2021 của Ủy ban kiểm tra Huyện ủy Cẩm Xuyên, tỉnh Hà Tĩnh; Bố: Phan Văn Kiếng, sinh năm 1930 (Đã chết); Mẹ: Nguyễn Thị Tuyết, sinh năm 1932 (Đã chết); Vợ: Nguyễn Thị Tâm; Sinh năm 1964; Nghề nghiệp: Làm ruộng; Hiện trú tại thôn Trung Đoài, xã Cẩm Dương, huyện CX, tỉnh HT; Con: có 03 đứa, lớn nhất sinh năm 1986, nhỏ nhất sinh năm 1992; Anh chị em ruột có 04 người, bị cáo là con thứ hai; Tiền án, tiền sự: Không; Biện pháp ngăn chặn: Bị cáo Phan Văn C bị tạm giữ từ ngày 19/3/2021, đến ngày 21/3/2021 bị khởi tố bị can và áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú’’ cho đến nay, có mặt tại phiên tòa.
3. Họ và tên: Phan Hồng B; Sinh ngày 04 tháng 05 năm 1983; Tại xã Cẩm Dương, huyện CX, tỉnh HT; Nơi đăng ký HKTT: thôn Trung Đoài, xã Cẩm Dương, huyện CX, tỉnh HT; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ văn hoá: Lớp 12/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Chức vụ, đảng phái: Quần chúng; Bố: Phan Hồng Huệ; Sinh năm 1959; Nghề nghiệp: Làm ruộng; Mẹ: Võ Thị Hữu; Sinh năm 1962; Nghề nghiệp: Làm ruộng; Hiện cả hai trú tại thôn Trung Đoài, xã Cẩm Dương, huyện CX, tỉnh HT; Vợ: Thái Thị Yến; Sinh năm 1987; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Hiện đã ly hôn, trú tại thôn Trung Đoài, xã Cẩm Dương, huyện CX, tỉnh HT; Con: có 03 đứa, lớn nhất sinh năm 2009, nhỏ nhất sinh năm 2018; Anh chị em ruột có 04 người, bị cáo là con thứ nhất; Tiền án, tiền sự: Không; Biện pháp ngăn chặn: Bị cáo Phan Hồng B bị tạm giữ từ ngày 19/3/2021, đến ngày 21/3/2021, khởi tố bị can và áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú’’ cho đến nay, có mặt tại phiên tòa.
4. Họ và tên: Hoàng Bá Danh; Sinh ngày 07 tháng 02 năm 1965; Tại: xã Cẩm Dương, huyện CX, tỉnh HT; Nơi đăng ký HKTT: thôn Nam Thành, xã Cẩm Dương, huyện CX, tỉnh HT; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ văn hoá: Lớp 12/12; Nghề nghiệp: Làm ruộng; Chức vụ, đảng phái: Quần chúng; Bố: Hoàng Bá Tao; Sinh năm 1934 (Liệt sỹ); Mẹ: Phan Thị Noa, Sinh năm 1930 (Đã chết); Vợ: Nguyễn Thị Hồng, Sinh năm 1964; Nghề nghiệp: Làm ruộng; Hiện trú tại thôn Nam Thành, xã Cẩm Dương, huyện CX, tỉnh HT; Con: có 02 đứa, đứa lớn sinh năm 1991, đứa nhỏ sinh năm 1992; Anh chị em ruột có 03 người, bị cáo là con thứ hai; Tiền án, tiền sự: Không; Biện pháp ngăn chặn: Bị cáo Hoàng Bá Danh bị tạm giữ từ ngày 19/3/2021, đến ngày 21/3/2021 bị khởi tố bị can và áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú’’ cho đến nay, có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Tối ngày 18/03/2021, Hoàng Bá Danh, Bùi Vĩnh H và Phan Hồng B đến nhà gia đình Phan Văn C, ở thôn Trung Đoài, xã Cẩm Dương, huyện CX, tỉnh HT, để chơi. Trong lúc đang ngồi uống nước, thì Bùi Vĩnh H nói “Đủ bốn người rồi ta làm hồi phỏm” (Ý là rủ mọi người đánh bài ăn tiền bằng hình thức đánh phỏm), thì Phan Văn C, Hoàng Bá Danh, Phan Hồng B đồng ý và đi vào trong phòng khách nhà của gia đình Phan Văn C để đánh bạc. Khi vào phòng khách, Phan Hồng B thấy một bộ bài tú lơ khơ 52 quân có sẵn trên bàn uống nước nên lấy bộ bài và ngồi lên chiếc phản gỗ có chiếu trải sẵn đặt giữa phòng khách để đánh bạc. Khoảng 20 giờ 40 phút cùng ngày, Bùi Vĩnh H, Phan Văn C, Phan Hồng B và Hoàng Bá Danh ngồi xuống chiếu thành vòng tròn rồi cùng nhau đánh bạc dưới hình thức đánh “Phỏm” được thua bằng tiền mỗi ván từ 50.000 đồng đến 250.000 đồng. Cách thức đánh cụ thể như sau: Bộ bài tú lơ khơ 52 quân, được đánh số tự nhiên theo thứ tự từ 02 đến 10 và các chữ số J, Q, K, A được chia cho mỗi người tham gia đánh 09 quân bài, riêng người chia bài thì được 10 quân, số quân bài còn lại sau khi chia xong được đặt úp xuống giữa chiếu, gọi là “Bài nọc”. Sau đó, người chia bài được đánh một quân bài cho người kế tiếp, theo thứ tự vòng tròn, người thứ hai xem xét quân bài người thứ nhất đánh, nếu ghép với các quân bài trên tay mình tạo thành “Phỏm” thì lấy quân bài đó và đánh một quân bài trên tay mình cho người tiếp theo, nếu không tạo thành “Phỏm” thì bốc một quân bài ở “Bài nọc” rồi đánh một quân bài cho người kế tiếp, cứ thế tiếp tục đánh đến khi người chơi đánh được bốn vòng đồng thời hết các quân “Bài nọc” giữa chiếu thì kết thúc ván đánh. Kết thúc ván đánh người nào có nhiều “Phỏm” hạ xuống và số con bài trên tay cộng lại, ai ít điểm nhất là người thắng cuộc và tiếp tục được chia bài đánh ván tiếp theo. “Phỏm” tức là người nào có từ 3 quân bài trở lên cùng chất liên tiếp hoặc có từ 3 đến 4 quân bài cùng hàng. Trong ván bài, người nào có 3 “Phỏm” thì được gọi là “Ù” và không có “Phỏm” nào thì được gọi là “Cháy”. Sau khi kết thúc ván đánh, người chơi hạ “Phỏm” của mình xuống và cộng điểm các quân bài còn lại trên tay. Cách tính điểm là quân “A” được tính 1 điểm, quân “J” được tính 11 điểm, quân “Q” được tính 12 điểm, quân “K” được tính 13 điểm, các quân bài còn lại được tính theo giá trị các chữ số thể hiện trên quân bài. Nếu người chơi nào cộng được ít điểm nhất, thì người đó thắng và lấy của người ít điểm thứ 2 là 50.000 đồng, lấy của người ít điểm thứ 3 là 100.000 đồng, lấy người ít điểm thứ 4 là 150.000 đồng. Nếu trong ván đánh mà có người nào bị “Cháy” thì phải trả cho người thắng là 200.000 đồng; người nào được “Ù” thì lấy của 03 người còn lại mỗi người 250.000 đồng. Ngoài ra, trong ván đánh người nào đánh cho người khác ăn quân bài để tạo thành “Phỏm”, thì cứ một quân bài người đó phải trả cho người ăn quân bài đó 50.000 đồng, nếu đánh cho người khác ăn quân bài “Chốt hạ” (tức là người tiếp theo còn lượt đánh cuối cùng) thì phải trả cho người ăn quân bài đó 100.000 đồng. Người nào “Ù” thì phải bỏ trên chiếu trúc 50.000 đồng tiền “Hồ” để sau khi đánh bạc xong cả nhóm đi ăn đêm và trả lại cho người bị thua nhiều một ít. Đến khoảng 23 giờ 50 phút ngày 18/3/2021, khi Bùi Vĩnh H, Phan Văn C, Hoàng Bá Danh và Phan Hồng B đang đánh bạc thì bị Tổ tuần tra Công an huyện CX phát hiện, bắt quả tang thu giữ tại chiếu bạc 02 (Hai) bộ bài tú lơ khơ có tổng cộng 104 quân bài, 5.100.000 (Năm triệu một trăm nghìn) tiền mặt trên chiếu và 4.500.000 (Bốn triệu năm trăm nghìn) tiền mặt của Phan Văn C để dưới chiếu và một chiếc chiếu trúc màu nâu.
Quá trình điều tra các bị cáo khai nhận số tiền sử dụng để đánh bạc bao gồm: Phan Văn C sử dụng 6.600.000 (Sáu triệu sáu trăm nghìn đồng) và một bộ bài tú lơ khơ 52 quân có sẵn của gia đình; Bùi Vĩnh H sử dụng 1.000.000 đồng (Một triệu đồng); Phan Hồng B sử dụng 1.000.000 đồng (Một triệu đồng) và mang theo một bộ bài tú lơ khơ 52 quân để sử dụng đánh bạc; Hoàng Bá Danh sử dụng 1.000.000 đồng (Một triệu đồng). Tổng số tiền các bị cáo sử dụng để đánh bạc là 9.600.000 đồng (Chín triệu sáu trăm nghìn đồng).
* Về thu giữ, tạm giữ tài liệu đồ vật; xử lý vật chứng: Trong quá trình điều tra, cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện CX đã thu giữ các vật chứng bao gồm:
- Thu giữ trên chiếu bạc số tiền 5.100.000 đồng (Năm triệu một trăm nghìn đồng); thu dưới chiếu bạc tại vị trí Phan Văn C ngồi số tiền 4.500.000 đồng (Bốn triệu năm trăm nghìn) tiền Ngân hàng nhà nước Việt Nam; 02 (Hai) bộ bài tú lơ khơ, có tổng cộng 104 quân bài, đã qua sử dụng; 01 (Một) chiếu trúc màu nâu, kích thước 186cm x 153cm, đã qua sử dụng.
các vật chứng nói trên hiện nay được bảo quản tại kho vật chứng cũng như tài khoản tạm giữ của Chi cục thi hành án dân sự huyện CX, tỉnh HT để xử lý theo quy định của pháp luật.
Với hành vi nêu trên, tại bản cáo trạng số: 45/CT-VKS-CX ngày 07/6/2021, Viện kiểm sát nhân dân huyện CX đã truy tố Bùi Vĩnh H, Phan Văn C, Hoàng Bá Danh và Phan Hồng B về tội “Đánh bạc’’ quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự.
Tại phiên toà Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện CX sau khi phân tích, đánh giá tính chất mức độ, hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo vẫn giữ nguyên quyết định truy tố đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Bùi Vĩnh H, Phan Văn C, Hoàng Bá Danh và Phan Hồng B về tội “Đánh bạc”.
Đề nghị áp dụng và xử phạt:
+ Áp dụng khoản 1, 3 điều 321; điểm i, s khoản 1, 2, Điều 51, khoản 2 điều 35, Điều 17, 58, Điều 65 Bộ luật Hình sự xử phạt Bùi Vĩnh H 6 đến 9 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 12 đến 18 tháng, thời gian thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Phạt bổ sung đối với bị cáo Bùi Vĩnh H từ 10.000.000 đến 15.000.000 đồng.
+ Áp dụng khoản 1, 3 điều 321; điểm i, s, x khoản 1, 2, Điều 51, khoản 2 điều 35, Điều 17, 58, Điều 65 Bộ luật Hình sự xử phạt Phan Văn C từ 6 đến 9 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 12 đến 18 tháng, thời gian thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Phạt bổ sung đối với bị cáo Phan Văn C từ 10.000.000 đến 15.000.000 đồng.
+ Áp dụng khoản 1, 3 điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51, khoản 2 điều 35, Điều 17, 58, Điều 65 Bộ luật Hình sự xử phạt Phan Hồng B từ 6 đến 9 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 12 đến 18 tháng, thời gian thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Phạt bổ sung đối với bị cáo Phan Hồng B từ 10.000.000 đến 15.000.000 đồng.
+ Áp dụng khoản 1, 3 điều 321; điểm i, s, x khoản 1 Điều 51, Khoản 2, Điều 35, Điều 17, 58, Điều 65 Bộ luật Hình sự xử phạt Hoàng Bá Danh từ 6 đến 9 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 12 đến 18 tháng, thời gian thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Phạt bổ sung đối với bị cáo Hoàng Bá Danh từ 10.000.000 đến 15.000.000 đồng.
Ngoài ra đại diện VKS còn đề nghị xử lý vật chứng theo quy định của pháp luật.
Các bị cáo Bùi Vĩnh H, Phan Văn C, Hoàng Bá Danh và Phan Hồng B không có ý kiến gì tranh luận với đại diện Viện kiểm sát mà xin hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt và xin cho các bị cáo được cải tạo giáo dục tại địa phương, riêng đối với bị cáo Phan Văn C xin được phạt tiền vì bị cáo là người đã từng tham gia chiến đấu chống giặc xâm lược bị thương hiện nay là Thương binh 2/4.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu được thẩm tra tại phiên toà; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của kiểm sát viên, các bị cáo và những người tham gia tố tụng khác, Hội đồng xét xử nhận thấy:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện CX, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện CX, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng theo trình tự thủ tục luật định, đều hợp pháp.
Tại phiên toà cũng như trong quá trình điều tra Bùi Vĩnh H, Phan Văn C, Hoàng Bá Danh và Phan Hồng B đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung bản cáo trạng đã truy tố. Lời khai nhận của các bị cáo phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, phù hợp với vật chứng đã thu giữ và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, do đó Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để khẳng định: Vào khoảng 23 giờ 50 phút ngày 18/03/2021, tại nhà Phan Văn C, thuộc địa phận thôn Trung Đoài, xã Cẩm Dương, huyện CX, tỉnh HT, tổ tuần tra Công an huyện CX phát hiện, bắt quả tang Bùi Vĩnh H, Phan Văn C, Phan Hồng B và Hoàng Bá Danh đang thực hiện hành vi đánh bạc, dưới hình thức “Đánh phỏm’’; thu tại chiếu bạc 02 (Hai) bộ bài Tú lơ khơ và 9.600.000 đồng (Chín triệu sáu trăm nghìn) tiền Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đang lưu hành. Tổng số tiền mà các bị can sử dụng vào việc đánh bạc là 9.600.000 đồng (Chín triệu sáu trăm nghìn), trong đó: Phan Văn C sử dụng 6.600.000 đồng (Sáu triệu sáu trăm nghìn); Bùi Vĩnh H sử dụng 1.000.000 đồng (Một triệu đồng); Phan Hồng B sử dụng 1.000.000 đồng (Một triệu) và Hoàng Bá Danh sử dụng 1.000.000 đồng (Một triệu).
Trong vụ án này, Bùi Vĩnh H là người khởi xướng rủ các bị cáo đánh bạc và là người thực hành; Phan Văn C, Phan Hồng B và Hoàng Bá Danh đồng phạm với vai trò thực hành.
Về hành vi phạm tội của các bị cáo: Hội đồng xét xử xét thấy hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đánh bạc là một tệ nạn đã xâm phạm trật tự trị an tại địa phương và hoạt động bình thường của xã hội. Đánh bạc là nguyên nhân làm phát sinh của nhiều tội phạm và vi phạm pháp luật, đồng thời làm ảnh hưởng đến kinh tế và hạnh phúc của nhiều gia đình. Xét hành vi đánh bạc của các bị cáo gây ảnh hưởng xấu về tình hình trật tự xã hội và dư luận bất bình trong cán bộ và quần chúng nhân dân. Bản thân các bị cáo có đủ năng lực trách nhiệm hình sự. Trong vụ án này các bị cáo Bùi Vĩnh H; Phan Văn C; Phan Hồng B; Hoàng Bá Danh đồng phạm với vai trò đồng thực hành về việc đánh bạc, vụ án đồng phạm giản đơn. Số tiền các bị cáo sử dụng vào việc đánh bạc là 9.600.000 đồng.
Hội đồng xét xử kết luận: Viện kiểm sát nhân dân huyện CX truy tố Bùi Vĩnh H; Phan Văn C; Phan Hồng B; Hoàng Bá Danh về tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 điều 321 Bộ luật hình sự là đúng người, đúng tội.
Xem xét tính chât, hành vi phạm tội, vai trò của các bị cáo trong vụ án và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự.
Về tình tiết tăng nặng: Bùi Vĩnh H; Phan Văn C; Phan Hồng B; Hoàng Bá Danh không có tình tiết tăng nặng; Về tình tiết giảm nhẹ: Bùi Vĩnh H “Phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng’’, “Người phạm tội thành khẩn khai báo’’, Bị cáo đã từng tham gia quân đội, là hải quân đánh bộ, Bố bị cáo là người có công với cách mạng được Nhà nước tặng Huy chương kháng chiến hạng nhì, do đó bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại các điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Phan Văn C “Phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng’’, “Người phạm tội thành khẩn khai báo’’, “Người phạm tội là người có công với cách mạng” (thương binh 2/4), Bố là người có công với cách mạng được tặng thưởng Huy chương hạng nhì trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, do đó bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại các Điểm i, s, x Khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Phan Hồng B “Phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng’’, “Người phạm tội thành khẩn khai báo’’, theo quy định tại các điểm i, s khoản 1 điều 51 Bộ luật Hình sự. Hoàng Bá Danh được hưởng tình tiết giảm nhẹ “Phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng’’, “Người phạm tội thành khẩn khai báo’’, “Người phạm tội là con của Liệt sỹ”, được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại các điểm i, s, x Khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Các bị cáo đều có nhân thân tốt, có nhiều tình tiết giảm nhẹ, cũng như sử dụng số tiền đánh bạc ít, vì vậy đủ căn cứ và điều kiện áp dụng điều 65 Bộ luật Hình sự xét thấy không cần thiết phải cách ly Bùi Vĩnh H; Phan Hồng B; Hoàng Bá Danh ra khỏi đời sống xã hội mà cần giao Bùi Vĩnh H; Phan Hồng B; Hoàng Bá Danh cho chính quyền địa phương quản lý giáo dục cũng đủ nghiêm. Riêng bị cáo Phan Văn C cần áp dụng Điều 35 Bộ luật hình sự để xử bằng hình phạt tiền đối với bị cáo vì bị cáo là người có công với cách mạng hiện nay là Thương binh 2/4.
. Về vật chứng: Áp dụng điểm a, khoản 1, điều 47 Bộ luật hình sự, khoản 1, Điểm a, c, khoản 2, điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu sung công quỹ nhà nước số tiền 9.600.000 đồng; Tịch thu, tiêu hủy: 02 (Hai) bộ bài tú lơ khơ, có tổng cộng 104 quân bài, đã qua sử dụng; 01 (Một) chiếu trúc màu nâu, kích thước 186cm x 153cm, đã qua sử dụng.
Về án phí: Mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí theo quy định của pháp luật. Đối với bị cáo Phan Văn C và bị cáo Hoàng Bá Danh được miễn án phí theo điều tại điểm đ, điều 12 Nghị quyết 326, nhưng các bị cáo không có đơn nên HĐXX không xem xét miễn án phí.
Về quyền kháng cáo: Các bị cáo được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên
QUYẾT ĐỊNH
1. Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Bùi Vĩnh H; Phan Văn C; Phan Hồng B; Hoàng Bá Danh phạm tội "Đánh bạc".
2. Về điều luật và hình phạt:
+ Áp dụng khoản 1, khoản 3 điều 321; khoản 2 điều 35; điểm i, s khoản 1, 2, điều 51; điều 65; điều 17, 58 Bộ luật Hình sự xử phạt Bùi Vĩnh H 07 (Bảy) tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách 14 (Mười bốn) tháng, thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm ngày 09/7/2021. Phạt bổ sung bằng tiền 12.000.000 đồng (Mười hai triệu đồng).
+ Áp dụng khoản 1, khoản 3 điều 321; khoản 2, điều 35; điểm i, s khoản 1 điều 51; điều 65; điều 17, 58 Bộ luật Hình sự xử phạt Phan Hồng B 06 (Sáu) tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách 12 (Mười hai) tháng, thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm, ngày 09/7/2021. Phạt bổ sung bằng tiền 10.000.000 đồng (Mười triệu đồng).
+ Áp dụng khoản 1, khoản 3 điều 321; khoản 2, điều 35; điểm i, s, x khoản 1 điều 51; điều 65, điều 17, 58 Bộ luật Hình sự xử phạt Hoàng Bá Danh 06 (Sáu) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 12 (Mười hai) tháng, thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm, ngày 09/7/2021. Phạt bổ sung bằng tiền 10.000.000 đồng (Mười triệu đồng).
Giao bị cáo Bùi Vĩnh H; Phan Hồng B; Hoàng Bá Danh cho Ủy ban nhân dân xã Cẩm Dương, huyện CX, tỉnh HT quản lý, giáo dục trong thời gian thử thách.
+ Áp dụng khoản 1, điều 321; điểm b, khoản 1, điều 32; khoản 1, điều 35; điểm i, s, x khoản 1, khoản 2, Điều 51, điều 17, 58 Bộ luật Hình sự phạt bằng tiền (Là hình phạt chính) đối với Phan Văn C 40.000.000 (Bốn mươi triệu đồng).
Trong trường hợp người phải thi hành án thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo Khoản 1 Điều 92 Luật thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành của bản án trước và tổng hợp hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật này.
3. Về vật chứng: Áp dụng Điểm a, c khoản 1, điều 47 Bộ luật hình sự, khoản 1, điểm a, c, khoản 2, điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự tuyên: Tịch thu sung công quỹ nhà nước số tiền 9.600.000 đồng. Tịch thu, tiêu hủy: 02 (Hai) bộ bài tú lơ khơ, có 104 quân bài; 01 (Một) chiếu trúc màu nâu kích thước 186cm x 153cm, đã qua sử dụng. (Tình trạng vật chứng có tại biên bản giao nhận vật chứng ngày 09/6/2021giữa Công an huyện CX và Chi cục thi hành án dân sự huyện CX).
4. Về án phí: Áp dụng khoản 2, điều 135, khoản 2, điều 136 BLTTHS; Điểm a, khoản 1, điều 3; khoản 1 điều 20, điểm a, khoản 1 điều 23; Nghị quyết 326/2016 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về án phí, lệ phí của tòa án, buộc các bị cáo Bùi Vĩnh H; Phan Văn C; Phan Hồng B; Hoàng Bá Danh mỗi bị cáo phải nộp 200.000đ án phí HSST.
9. Quyền kháng cáo bản án: Các bị cáo Bùi Vĩnh H; Phan Văn C; Phan Hồng B; Hoàng Bá Danh có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
T.M/Hội đồng xét xử
| Nơi nhận: - TAND tỉnh HT; - VKSND huyện CX (2 bản); - THA huyện CX; - Công an huyện CX; - Sở tư pháp tỉnh HT; - Cổng thông tin điện tử Tòa án; - Các bị cáo - Lưu hồ sơ, án văn | Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Trần Thị Minh T |