- Tranh chấp gì? án hình sự — "Võ Ngọc H - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Võ Ngọc H phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH BÌNH DƯƠNG Bản án số: 44/2021/HS-ST Ngày 23-02-2021 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Võ Ngọc Công.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Tô Văn Nhung;
2. Bà Nguyễn Thị Thu Vân.
Thư ký phiên toà: Bà Trần Thị Hồng, Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Mỹ, Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 02 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 21/2021/TLST-HS ngày 20 tháng 01 năm 2021, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 31/2021/QĐXXST-HS ngày 08 tháng 02 năm 2021 đối với bị cáo:
Võ Ngọc H, sinh năm 1988 tại tỉnh Bến Tre; thường trú: Ấp X Nh, xã L Ph, huyện Gi Tr, tỉnh B Tr; chỗ ở: Đường B H 05, khu phố Đ B, phường B H, thành phố Th A, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: Buôn bán; trình độ học vấn: 11/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; con ông Võ Văn Nh (đã chết) và bà Đặng Thị Nh, sinh năm 1968; bị cáo có 01 em ruột, sinh năm 1993 và có 01 con ruột, sinh năm 2010; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 16/9/2020 cho đến nay, có mặt.
* Người tham gia tố tụng khác:
- Người làm chứng:
1. Anh Nguyễn Văn L, sinh năm 1971; vắng mặt.
2. Anh Trần Anh T, sinh năm 2000; vắng mặt.
3. Anh Ngô Trần Hoàng Sỹ Ng, sinh năm 2000; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án
được tóm tắt như sau:
Khoảng 21 giờ ngày 16/9/2020, Đội Cảnh sát Kinh tế - ma túy Công an thành phố D A, tỉnh Bình Dương phối hợp với Công an phường A B, thành phố D A đi tuần tra, khi đội tuần tra đến số nhà 14 đường L Tr T, khu phố B Đ 2, phường A B, thành phố D A, tỉnh Bình Dương thì phát hiện tài xế xe mô tô chở khách Nguyễn Văn L điều khiển chở Võ Ngọc H ngồi phía sau có dấu hiệu nghi vấn nên yêu cầu kiểm tra. Quá trình kiểm tra phát hiện bên trong túi áo khoác màu xanh của H phía bên trong có 01 (một) hộp nhựa màu vàng đen có 02 (hai) túi nilong miệng kéo dính bên trong có chứa chất kết dính màu trắng và 02 (hai) túi nilong miệng hàn kín chứa chất tinh thể màu trắng. H khai chất kết dính màu trắng là ma túy. Quá trình điều tra xác định: Võ Ngọc H là đối tượng nghiện ma túy và không có nghề nghiệp ổn định. Để có tiền tiêu xài và mua ma túy sử dụng, khoảng 14 giờ ngày 16/9/2020, Hưởng đi bộ từ phòng trọ tại địa chỉ đường BH05 khu phố Đ B, phường B H, thành phố Th A, tỉnh Bình Dương đến gặp người đàn ông (chưa rõ nhân thân, lai lịch) trên đường Ng Ch Qu, phường B Ch, quận Th Đ, Thành phố Hồ Chí Minh mua 400.000 đồng ma túy về bán lại cho các đối tượng nghiện để kiếm lời. Sau khi nhận được ma túy, H cất số ma túy trên vào trong hộp nhựa màu đen rổi bỏ vào túi áo khoác Jean màu xanh. Khoảng 20 giờ 30 phút cùng ngày, H đón xe mô tô chở khách đến khu vực khu phố B Đ 2, phường A B, thành phố D A, tỉnh Bình Dương để gặp người tên Phan Ngọc H (chưa rõ nhân thân, lai lịch) để lấy tiền nợ khi đi đến trước nhà số nhà 14 đường L Tr T, khu phố B Đ 2, phường A B, thành phố D A, tỉnh Bình Dương thì bị bắt qua tang cùng toàn bộ số ma túy thu giữ. Công an yêu cầu H về Công an phường A B, thành phố D A, tỉnh Bình Dương để làm việc. Trong quá trình làm việc thì Trần Anh T gọi điện vào số máy của Hưởng (0345925267) đặt mua 200.000 đồng ma túy. Sau đó, H phối hợp với Công an để làm việc với Trần Anh T và Ngô Trần Hoàng Sỹ Ng. Qua quá trình làm việc H, T và Ng trình bày sự việc nêu trên. Ngoài ra, T và H còn thừa nhận: từ ngày 04/9/2020 đến 15/9/2020, H trực tiếp bán ma túy cho T 03 (ba) lần, mỗi lần bán 200.000 đồng.
Lần thứ nhất: Khoảng 21 giờ ngày 04/9/2020, trên đường tỉnh lộ 43 cách cổng khu vực khu công nghiệp Đ A về hướng cầu ông B khoảng 50m thuộc khu phố Đ A, phường B H, thành phố Th A, tỉnh Bình Dương, H bán cho T 200.000 đồng ma túy.
Lần thứ hai: Khoảng 20 giờ ngày 10/9/2020 tại đường hẽm cạnh Ngân hàng V thuộc khu phố B Đ 2, phường A B, thành phố D A, tỉnh Bình Dương, H đã bán cho T 200.000 đồng ma túy.
Lần thứ ba: Khoảng 21 giờ ngày 15/9/2020 tại đường hẽm cạnh Ngân hàng V thuộc khu phố B Đ 2, phường A B, thành phố D A, tỉnh Bình Dương, H đã bán cho T 200.000 đồng ma túy.
- Vật chứng thu giữ gồm: 01 (một) điện thoại di động Nokia màu đen, có sim số 0345925267 của Võ Ngọc H, 01 (một) điện thoại di động hiệu ViVo 1935 màu đen của Trần Anh T, 01 (một) điện thoại di động hiệu ViVo V2027 màu xanh của Ngô Trần Hoàng Sỹ Ng, 01 (một) hộp nhựa màu vàng đen có 02 (hai) túi nilon miệng kéo dính bên trong chứa tinh thể màu trắng và 02 (hai) túi nilon miệng kéo dính bên trong chứa tinh thể màu trắng.
Căn cứ Kết luận giám định số: 596/MT-PC09 ngày 23 tháng 9 năm 2020 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Dương, kết luận:
Mẫu tinh thể màu trắng, gửi giám định là ma túy, có khối lượng: 0,8739 gam (M4), loại Methamphetamine.
Mẫu tinh thể màu trắng, gửi giám định có khối lượng: 0,5617 gam (M1); 0,9831 gam (M2); 1,4157 gam (M3), tìm không thấy loại ma túy thường gặp (NĐ:73/2018/NĐ-CP).
Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì các Kết luận giám định số: 596/MT-PC09 ngày 23 tháng 9 năm 2020 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Dương.
Đối với Trần Anh T và Ngô Trần Hoàng Sỹ Ng là người sử dụng trái phép chất ma túy nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Dĩ An ra Quyết định xử lý vi phạm hành chính đối với T và Ng mỗi người 750.00 đồng, theo quy định điểm a khoản 2 Điều 21 Nghị định 167/2013/NĐ-CP ngày 12/11/2013 của Chính phủ và thông báo về chính quyền địa phương để quản lý, giáo dục.
Đối với Nguyễn Văn L là tài xế xe mô tô chở khách được H thuê chở đi giao ma túy cho tên H (không rõ nhân thân, lai lịch), do L không biết H đi giao ma túy và cũng không biết H cất giấu ma túy trong người nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố D A, tỉnh Bình Dương không đề cập xử lý.
Cáo trạng số: 44/CT-VKS ngày 20 tháng 01 năm 2021 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương truy tố bị cáo Võ Ngọc H về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An trong phần tranh luận giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 để xử phạt bị cáo Võ Ngọc H từ 07 năm 06 tháng đến 08 năm tù.
* Về xử lý vật chứng:
- Đối với 01 (một) hộp nhựa màu vàng đen, là công cụ sử dụng vào việc phạm tội nên đề nghị tịch thu tiêu hủy.
- Đối với 01 (một) điện thoại di động hiệu Nokia màu đen, có sim số 0345925267 của Võ Ngọc H, là phương tiện sử dụng vào việc phạm tội nên đề nghị tịch thu sung vào Ngân sách Nhà nước và tịch thu tiêu hủy.
- Đối với 01 (một) điện thoại di động hiệu ViVo màu đen, kiểu máy ViVo 1935 của Trần Anh T và 01 (một) điện thoại di động hiệu ViVo màu xanh, kiểu dáng V2027 của Ngô Trần Hoàng Sỹ Ng. Ngày 21/9/2020, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố D A, tỉnh Bình Dương đã trả lại cho T và Ng.
- Đối với 01 (một) bì thư đã niêm phong bên trong chứa tinh thể màu trắng 0,4118 gam (M1); 0,8268 gam (M2); 1,2427 gam (M3), không phải là ma túy và 0,7739 gam (M4) ma túy loại Methamphetamine, mẫu vật hoàn lại sau giám định là tang vật của vụ án nên đề nghị tịch thu tiêu hủy.
Trước khi Hội đồng xét xử nghị án, bị cáo không có ý kiến tranh luận với Viện kiểm sát về điều luật áp dụng, khung hình phạt và xử lý vật chứng đồng thời bị cáo xin được giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Dĩ An, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Căn cứ vào lời khai của bị cáo, người làm chứng và những chứng cứ, tài liệu được thu thập có trong hồ sơ vụ án, xác định: Từ ngày 04/9/2020 đến ngày 15/9/2020 tại địa bàn thành phố Th A và thành phố D A, tỉnh Bình Dương. Võ Ngọc H đã bán ma túy 03 lần ma túy cho Trần Anh T, mỗi lần 200.000 đồng thì bị phát hiện và bắt giữ.
Như vậy, hành vi trên đây của bị cáo bán 03 lần ma túy cho Trần Anh T, mục đích để thu lợi và có tiền sử dụng ma túy đã đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Do đó, Cáo trạng số: 44/CT-VKS ngày 20 tháng 01 năm 2021 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương và kết luận của Kiểm sát viên đề nghị truy tố bị cáo Võ Ngọc H về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định điểm b khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật; bị cáo hoàn toàn đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự.
Tính chất, mức độ của hành vi: Tội phạm do bị cáo thực hiện là rất nghiêm trọng, đã xâm phạm vào sự quản lý độc quyền của Nhà nước về chất ma tuý, gây tác hại cho xã hội, gây mất trật tự trị an tại địa phương. Để có tiền tiêu xài và có tiền sử dụng ma túy mà bị cáo đã thực hiện hành vi mua bán trái phép chất ma túy. Vì vậy, cần xử phạt bị cáo với mức án tương xứng với tính chất mức độ tội phạm đã thực hiện, có xét đến các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo đủ để giáo dục, cải tạo bị cáo thành những công dân có ích cho gia đình, xã hội và có tác dụng đấu tranh, phòng ngừa chung.
Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Về nhân thân: Bị cáo là người chưa có tiền án, tiền sự. Tuy nhiên bị cáo là người nghiện ma túy nên cũng cần xem xét khi quyết định hình phạt đối với bị cáo.
Về hình phạt:
- Hình phạt chính: Xét bị cáo phạm tội rất nghiêm trọng, đã xâm phạm vào sự quản lý độc quyền của Nhà nước về chất ma tuý đồng thời bị cáo là người có nhân thân xấu và nghiện ma túy, vì vậy Hội đồng xét xử quyết định áp dụng hình phạt tù đối với bị cáo, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới đủ để giáo dục, cải tạo bị cáo thành những công dân có ích cho gia đình, xã hội và có tác dụng đấu tranh, phòng ngừa chung.
- Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 251 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”. Tuy nhiên, bị cáo là người không có nghề nghiệp ổn định, nghiện ma túy, áp dụng phạt tù cũng đủ để răn đe, giáo dục bị cáo nên Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng:
- Xét 01 (một) hộp nhựa màu vàng đen, là công cụ sử dụng vào việc phạm tội nên cần tịch thu tiêu hủy.
- Đối với 01 (một) điện thoại di động hiệu Nokia màu đen, có sim số 0345925267 của Võ Ngọc H, là phương tiện sử dụng vào việc phạm tội nên đề nghị tịch thu sung vào Ngân sách Nhà nước và tịch thu tiêu hủy.
- Đối với 01 (một) điện thoại di động hiệu ViVo màu đen, kiểu máy ViVo 1935 của Trần Anh T và 01 (một) điện thoại di động hiệu ViVo màu xanh, kiểu dáng V2027 của Ngô Trần Hoàng Sỹ Ng. Ngày 21/9/2020, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố D A, tỉnh Bình Dương đã trả lại cho T và Ng nên không đặt ra xem xét.
- Xét 01 (một) bì thư đã niêm phong bên trong chứa tinh thể màu trắng 0,4118 gam (M1); 0,8268 gam (M2); 1,2427 gam (M3), không phải là ma túy và 0,7739 gam (M4) ma túy loại Methamphetamine, mẫu vật hoàn lại sau giám định là tang vật của vụ án nên cần tịch thu tiêu hủy.
Đối với Trần Anh T và Ngô Trần Hoàng Sỹ Ng là người sử dụng trái phép chất ma túy nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Dĩ An ra Quyết định xử lý vi phạm hành chính đối với T và Ng mỗi người 750.00 đồng, theo quy định điểm a khoản 2 Điều 21 Nghị định 167/2013/NĐ-CP ngày 12/11/2013 của Chính phủ, thông báo về chính quyền địa phương để quản lý, giáo dục và đối với Nguyễn Văn L là tài xế xe mô tô chở khách được H thuê chở đi giao ma túy cho tên Hiệp (không rõ nhân thân, lai lịch), do L không biết H đi giao ma túy và cũng không biết H cất giấu ma túy trong người nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố D A, tỉnh Bình Dương không đề cập xử lý, là đúng theo quy định của pháp luật.
Xét đề nghị Viện kiểm sát về tội danh, điều luật áp dụng, khung hình phạt, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo và xử lý vật chứng là phù hợp nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Án phí sơ thẩm: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban thường vụ Quốc Hội khoá 14 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố bị cáo Võ Ngọc H phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
- Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Xử phạt bị cáo Võ Ngọc H 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 16/9/2020.
2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a, b khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
- Tịch thu tiêu hủy 01 (một) bì thư đã niêm phong bên trong chứa tinh thể màu trắng 0,4118 gam (M1); 0,8268 gam (M2); 1,2427 gam (M3), không phải là ma túy và 0,7739 gam (M4) ma túy loại Methamphetamine, mẫu vật hoàn lại sau giám định; 01 (một) hộp nhựa màu vàng đen và sim số 0345925267.
- Tịch thu sung vào Ngân sách Nhà nước 01 (một) điện thoại di động hiệu Nokia màu đen.
(Theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 20/01/2021 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Dĩ An với Chi cục thi hành án dân sự thành phố Dĩ An).
3. Về án phí sơ thẩm: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban thường vụ Quốc Hội khoá 14 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
Bị cáo Võ Ngọc H phải nộp 200.000đ (hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo có mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án./. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN –CHỦ TỌA PHIÊN TÒÀ