- Tranh chấp gì? án hình sự — "Hà Ngọc Ch Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm…"
- Tòa quyết gì? Tuyên: Bị cáo Hà Ngọc Ch phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”;
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUAN HÓA TỈNH THANH HÓA ––––––––––––––– | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 44 /2021/HS-ST Ngày: 15- 12- 2021 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUAN HÓA, TỈNH THANH HÓA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lữ Thị Mai
Các Hội thẩm nhân dân: - ông Phạm Văn Nhất
- bà Hà Thị Cươi
- Thư ký phiên tòa: bà Phạm Thị Xuân– Thư ký Tòa án nhân dân huyện Quan Hóa
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quan Hóa, tỉnh Thanh Hóa
tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Phương - Kiểm sát viên.
Vào ngày 15 tháng 12 năm 2021 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Quan Hóa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 45/2021/TLST-HS ngày 18 tháng 11 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 44/2021/QĐXXST-HS ngày 02 tháng 12 năm 2021 đối với bị cáo:
Hà Ngọc Ch - Sinh năm 1986, tại bản Ch, xã Ph, huyện Q, tỉnh Th
Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá (học vấn): 12/12; Dân tộc: Thái; Giới tính: Nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam;
Con ông Hà Thái Ng- sinh năm 1951 và bà Hà Thị K – sinh năm 1955; bị cáo có vợ là Hà Thị N sinh năm 1993 và 02 con; Tiền án: Không; Tiền sự: Không;
Bị cáo bị bắt, tạm giữ 09 ngày từ 30/8/2021 đến 08/9/2021. Áp dụng biện pháp ngăn chặn bằng Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú số 09/CSĐT, Hiện bị cáo đang tại ngoại tại bản Ch, xã Ph, huyện Q, tỉnh Th (Có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Vào hồi 13 giờ 00 phút ngày 30/08/2021 Tổ công tác Công an xã Ph, huyện Q đang làm nhiệm vụ tuần tra kiểm soát tại khu vực đầu Cầu treo bản Ch , xã Ph, huyện Q phát hiện một nam thanh niên có biểu hiện nghi vấn phạm tội về ma túy. Tổ công tác yêu cầu kiểm tra phát hiện tại túi quần bên phải có một túi ni lon màu trắng bên trong đựng 37 (ba mươi bảy) viên nén hình trụ màu hồng và 01 (một) viên nén hình trụ màu xanh nghi là ma túy tổng hợp. Đối tượng khai tên: Hà Ngọc Ch, sinh năm: 1986, cư trú tại bản Ch, xã Ph, huyện Q, tỉnh Th. Chắc khai nhận các viên nén hình trụ màu hồng, xanh trong túi ni lon bị thu giữ là ma túy tổng hợp mua về để sử dụng. Tổ công tác đã lập biên bản và đưa đối tượng và các đồ vật tài liệu về trụ sở để làm việc (Bút lục: 01- 02).
Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Quan Hóa đã tiến hành trưng cầu giám định số ma túy thu giữ của Hà Ngọc Ch. Tại bản Kết luận giám định số: 2788/PC09 của Phòng kỹ thuật hình sự, Công an tỉnh Thanh Hóa ngày 05/9/2021 kết luận:
- 37 (ba bảy) viên nén hình trụ màu hồng của phong bì niêm phong gửi giám định là ma túy, có tổng khối lượng (trọng lượng) 3,458g (ba phẩy bốn năm tám gam) loại: Methamphetamine.
01 (một) viên nén hình trụ màu xanh của phong bì niêm phong gửi giám định là ma túy, có tổng khối lượng (trọng lượng) 0,100g (không phẩy một không không gam) loại: Methamphetamine. (Bút lục: 08).
Quá trình điều tra tại Cơ quan điều tra Công an huyện Quan Hóa, Hà Ngọc Ch khai nhận như sau: Khoảng 15 giờ ngày 29/8/2021 Ch đi bộ từ nhà ở bản Ch, xã Ph, huyện Q, tỉnh Th ra đường Quốc lộ 15A bắt xe khách đến xã Tr, huyện Q, tỉnh Th tìm mua ma túy về sử dụng. Tại khu vực cầu C thuộc bản C, xã Tr, huyện Q ven đường Ch gặp và mua ma túy với số tiền 800.000đ (tám trăm nghìn đồng) của một người đàn ông dân tộc Mông (Ch khai không biết tên, tuổi, địa chỉ) được một túi nilon màu trắng bên trong chứa 40 (bốn mươi viên) ma túy loại Methamphetamine. Sau khi mua được ma túy Ch ra đường bắt xe khách về nhà và đem 02 (hai viên) ra sử dụng bằng hình thức chích. Đến trưa ngày 30/9/2021 Ch lên cơn thèm ma túy nên Ch đi bộ ra đầu Cầu treo bản Ch, xã Ph tìm mua Heroine để trộn lẫn vào hồng phiến để sử dụng, khi ra đến đầu cầu treo thì gặp Công an xã Ph yêu cầu kiểm tra phát hiện bắt quả tang thu giữ số ma túy trên (Bút lục số: 01 - 02).
Về vật chứng vụ án:
- 01( một) phong bì niêm phong mẫu vật Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hóa phát hành, được dán kín, niêm phong bởi các chữ ký, ghi rõ họ tên của Nguyễn Trần Đăng, Trần Thị Thúy Hằng, Vũ Anh Dũng và các hình dấu của Phòng kỹ thuật hình sự công an tỉnh Thanh Hóa, bên trong có chứa toàn bộ bao gói niêm phong có 34( ba bốn) viên nén hình trụ màu hồng có tổng khối lượng 3,170g (ba phẩy một bảy không gam); 0,072g (không phẩy không bảy hai gam) chất bộ màu xanh là mẫu vật còn lại sau giám định.
Tất cả tang vật nêu trên đang được bảo quản tại kho vật chứng của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Quan Hóa theo quy định của pháp luật.
Tại bản Cáo trạng số 41/CT-VKSQH ngày 17 tháng 11 năm 2021, Viện Kiểm sát nhân dân huyện Quan Hóa truy tố Hà Ngọc Ch về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS 2015
Tại phiên tòa, Đại diện Viện Kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên bố: bị cáo Hà Ngọc Ch phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”
Áp dụng: Điểm c khoản 1 điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 điều 51; điều 38 BLHS 2015
Xử phạt: Bị cáo Hà Ngọc Ch từ 36 tháng đến 42 tháng tù, trừ đi 09 ngày tạm giữ. Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.
Ngoài ra, Đại diện Viện Kiểm sát còn đề nghị HĐXX giải quyết những vấn đề khác trong vụ án như xử lý vật chứng, án phí.
Bị cáo đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như bản Cáo trạng đã truy tố; phần tranh luận bị cáo không có ý kiến gì. Trong lời nói sau cùng, bị cáo đã thể hiện thái độ ăn năn hối cải, mong HĐXX xem xét cho bị cáo được hưởng một mức án nhẹ để bị cáo có cơ hội cải tạo, tu dưỡng thành người công dân có ích cho xã hội
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Xét tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng: Cơ quan Điều tra, Viện Kiểm sát, Điều tra viên, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến gì. Do đó, mọi quyết định tố tụng, hành vi tố tụng trong quá trình khởi tố, điều tra, truy tố đều hợp pháp.
Xét hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa, bị cáo đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như bản Cáo trạng đã truy tố; lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của những người làm chứng, Biên bản phạm tội quả tang; Biên bản, Kết luận giám định, và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Bị cáo đã có hành vi mua, tàng trữ chất ma túy nhằm mục đích sử dụng. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS 2015. Cáo trạng của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Quan Hóa truy tố bị cáo là chính xác, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Xét tính chất, mức độ của hành vi phạm tội: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội; xâm phạm trực tiếp đến chế độ độc quyền quản lý chất ma túy của Nhà nước; làm ảnh hưởng đến trật tự, trị an tại địa phương. Bị cáo ý thức được hậu quả của ma túy đối với sức khỏe và đời sống xã hội cũng như sự ngăn cấm của pháp luật bị cáo vẫn cố ý thực hiện hành vi phạm tội. để thỏa mãn cơn nghiện của bản thân bị cáo đã tàng trữ để sử dụng. Bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự về số ma túy thu giữ được trong quá trình bắt quả tang: tổng trọng lượng là 3,558g (Ba phẩy năm năm tám) gam. Do đó, hành vi của bị cáo phải bị xử lý nghiêm để đảm bảo răn đe, giáo dục, phòng ngừa chung.
Xét nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo:
+ Bị cáo có nhân thân tốt, không có tiền án, tiền sự; không có tình tiết tăng nặng. Trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa, bị cáo luôn có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Bố, mẹ là người có công với cách mạng được nhà nước tặng thưởng Huy chương kháng chiến hạnh nhì. Từ đó, cần áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s, khoản 1, khoản 2 điều 51 BLHS để bị cáo thấy rõ sự khoan hồng của pháp luật.
Về hình phạt chính : Từ những căn cứ nêu trên, cần áp dụng quy định tại điểm c khoản 1, Điều 249, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 , Điều 38 BLHS 2015; xử phạt bị cáo một mức án tương xứng với tính chất và mức độ hành vi phạm tội của bị cáo; cần thiết cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian dài mới đủ sức răn đe, để bị cáo tích cực cải tạo, rèn luyện trở thành công dân có ích cho xã hội.
Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có công việc, thu nhập ổn định nên Hội đồng xét xử xét thấy không cần thiết áp dụng phạt tiền là hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng:
01( một) phong bì niêm phong mẫu vật Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hóa phát hành, được dán kín, niêm phong bên trong có chứa toàn bộ bao gói niêm phong có 34( ba bốn) viên nén hình trụ màu hồng có tổng khối lượng 3,170g (ba phẩy một bảy không gam); 0,072g (không phẩy không bảy hai gam) chất bộ màu xanh là mẫu vật còn lại sau giám định, là vật thuộc loại Nhà nước cấm tàng trữ. Do đó, cần áp dụng quy định tại điểm c, khoản 1 Điều 47 BLHS 2015; điểm a, khoản 2 Điều 106 BLTTHS 2015 tuyên tịch thu tiêu hủy;
Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51; Điều 38 BLHS 2015; điểm c khoản 1 Điều 47 BLHS 2015; điểm a khoản 2 Điều 106 BLTTHS 2015;
Căn cứ vào khoản 2 Điều 135, Điều 331, 333 BLTTHS; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội;
1. Tuyên: Bị cáo Hà Ngọc Ch phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”;
2. Xử phạt: Bị cáo Hà Ngọc Ch 37 ( Ba mươi bảy) tháng tù, trừ đi 09 ngày tạm giữ, bị cáo còn phải chấp hành 36( Ba mươi sáu) tháng 21 ngày tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt đi thi hành án.
3. Về xử lý vật chứng: Tuyên tịch thu tiêu hủy 01 (một) phong bì niêm phong do Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Thanh Hóa phát hành bên trong có chứa 3,170g (ba phẩy một bảy không gam); 0,072g (không phẩy không bảy hai gam) toàn bộ bao gói mở niêm phong là mẫu vật còn lại sau giám định.
Đặc điểm vật chứng thể hiện tại Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản lập ngày 17/11/2021 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an huyện Quan Hóa và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Quan Hóa
4. Về án phí: Bị cáo Hà Ngọc Ch phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm
5. Về quyền kháng cáo: Án xử sơ thẩm công khai, có mặt bị cáo. Bị cáo có quyền kháng cáo toàn bộ nội dung bản án trong thời hạn 15 (mười lăm ngày); kể từ ngày tuyên án./.
| Nơi nhận: - Bị cáo; - VKSND huyện Quan Hóa; - VKSND tỉnh Thanh Hóa; - TAND tỉnh Thanh Hóa; - Sở Tư pháp tỉnh Thanh Hóa; - Cơ quan CSĐT- CA huyện Quan Hóa; - Cơ quan THAHS- CA huyện Quan Hóa; - Trại tạm giam- CA tỉnh Thanh Hóa; - Lưu HSVA | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lữ Thị Mai |