vanban.org

Bản án 44/2021/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Krông Năng, tỉnh Đắk Lắk Tuyên án 20/08/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Bùi Thức V phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Về hình phạt chính: Xử phạt bị cáo Bùi Thức V 05 (Năm) năm, 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 11 tháng 5 năm 2021. Về hình phạt bổ sung: Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bùi Thức V - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Bùi Thức V phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN KRÔNG NĂNG
TỈNH ĐẮK LẮK
–––––––––––––––

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 44/2021/HS - ST
Ngày 20 – 8 – 2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KRÔNG NĂNG TỈNH ĐẮK LẮK

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đỗ Văn Dũng

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Đình Long, ông Trần Hữu Nghị

- Thư ký phiên tòa: Ông Lương Công Hà là Thư ký Tòa án của Tòa án nhân dân huyện Krông Năng, tỉnh Đắk Lắk

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Krông Năng, tỉnh Đắk Lắk tham gia phiên tòa: Bà Lê Trịnh Xuân Trang - Kiểm sát viên

Ngày 20 tháng 8 năm 2021, tại Tòa án nhân dân huyện Krông N, tỉnh Đắk Lắk xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 46/2021/TLST-HS ngày 28 tháng 7 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 46/2021/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 8 năm 2021 đối với bị cáo:

Họ và tên: Bùi Thức V; sinh năm 1991, tại tỉnh Hà Tĩnh; nơi cư trú: Thôn 2, xã Phú X, huyện Krông N, tỉnh Đắk Lắk; nghề nghiệp: Làm nông; trình độ văn hoá: 10/12; dân tộc:Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Bùi Ngọc D và bà Phan Thị L; bị cáo chưa có vợ, con; tiền án: Bản án số 95/2014/HSPT ngày 31 tháng 3 năm 2014, của Tòa án nhân tỉnh Đắk Lắk xử phạt 01 năm, 07 tháng tù về tội cố ý gây thương tích. Ngày 24 tháng 12 năm 2014, chấp hành xong hình phạt tù. Ngày 02 tháng 7 năm 2021, nộp án phí HSST; Tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt ngày 11 tháng 5 năm 2021, hiện đang bị tạm giam, có mặt.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Bùi Thức C, sinh năm 1984, có mặt.

Trú tại: Thôn 2, xã Phú X, huyện Krông N, tỉnh Đắk Lắk

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do nghiện ma túy nên khoảng 15 giờ 00 phút ngày 11 tháng 5 năm 2021, Bùi Thức V điều khiển xe mô tô mang BKS 79N2 – 038.39 của ông Bùi Thức C đi từ nhà đến khu vực Bệnh viện đa khoa thị xã Buôn H, tỉnh Đắk Lắk để mua ma túy về sử dụng. V mua của một người tên D (Không rõ nhân thân, lai lịch) hai bịch nhựa và 01 túi nylon ma túy với tổng số tiền là 4.500.000đ (Bốn triệu, năm trăm nghìn đồng).

Khoảng 18 giờ 00 phút cùng ngày, V về đến khu vực thôn 1, xã Phú X, huyện Krông N, tỉnh Đắk Lắk thì bị lực lượng chức năng phát hiện bắt giữ cùng với tang vật (V khai đó là ma túy đá).

Bản kết luận giám định số 540/GĐMT-PC09 ngày 19 tháng 5 năm 2021 của Phòng kỹ thuật hình sự, Công an tỉnh Đắk Lắk kết luận: Chất tinh thể rắn màu trắng đựng trong hai gói nhựa và một gói nylon màu trắng được niêm phong gửi đến giám định là ma túy, có tổng khối lượng 11,8147gam, loại Methamphetamine.

Bản cáo trạng số 53/CT – VKS ngày 27 tháng 7 năm 2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Krông N, tỉnh Đắk Lắk truy tố bị cáo Bùi Thức V về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm g khoản 2 Điều 249 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung của bản Kết luận điều tra và bản Cáo trạng mà Viện kiểm sát truy tố.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng điểm g khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo từ 05 năm 06 tháng đến 06 năm tù.

Áp dụng Điều 46 và Điều 47của Bộ luật hình sự; Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự. Tịch thu tiêu hủy 11,6117 gam ma túy còn lại sau khi giám định và 01 ống thủy tinh hình móc câu, đường kính 0,6cm, dài 7,6cm, rộng 3,5cm. Trả lại cho bị cáo 01 điện thoại hiệu Redmi, màu đen, đã qua sử dụng; 01 điện thoại hiệu Nokia, màu đen, đã qua sử dụng và 500.000đ.

Bị cáo không tranh luận gì mà chỉ xin Hội đồng xét xử, xử phạt bị cáo mức án thấp để sớm hòa nhập cộng đồng và trở thành công dân có ích cho xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Krông N, tỉnh Đắk Lắk, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Krông N, tỉnh Đắk Lắk, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Xét thấy hành vi của bị cáo vào khoảng 18 giờ 00 phút ngày 11 tháng 5 năm 2021, bị cáo đến Bệnh viện đa khoa thị xã Buôn H mua ma túy để sử dụng. Khi về đến khu vực thôn 1, xã Phú X, huyện Krông N, tỉnh Đắk Lắk bị cáo bị bắt và thu giữ trên người 02 hộp nhựa cứng, 01 gói nylon, bên trong có chứa chất rắn màu trắng. Theo kết luận của Phòng kỹ thuật hình sự, Công an tỉnh Đắk Lắk thì chất rắn màu trắng thu giữ của bị cáo là ma túy, có tổng khối lượng là 11,8147gam. Hành vi nêu trên của bị cáo đã phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tội phạm, hình phạt được quy định tại điểm g khoản 2 Điều 249 của Bộ luật hình sự.

Điều 249 của Bộ luật hình sự quy định:

1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.

…

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 10 năm.

..

g) Methamphetamine,... có khối lượng từ 05 gam đến dưới 30 gam...

Xét tính chất mức độ nguy hiểm cho xã hội đối với hành vi phạm tội của bị cáo gây ra là rất nghiêm trọng. Hành vi của bị cáo không những xâm phạm đến những quy định của Nhà nước về quản lý chất ma túy mà còn xâm phạm đến trật tự trị an trong xã hội. Mặc dù bị cáo là người có đầy đủ năng lực để nhận thực được việc tàng trữ trái phép chất ma túy là trái với quy định của pháp luật. Song xuất phát từ ý thức coi thường pháp luật, coi thường sức khỏe của bản thân nên bị cáo đã tàng trữ 11,8147gam ma túy để sử dụng. Xét thấy bị cáo phạm tội với tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là tái phạm và hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, vì vậy đòi hỏi pháp luật phải có biện pháp trừng trị thích đáng đối với bị cáo, buộc bị cáo phải cách ly ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định. Có như vậy mới đủ tác dụng giáo dục riêng và răn đe phòng ngừa chung trong toàn xã hội.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa, bị cáo biết ăn năn hối cải, thành khẩn khai báo đối với hành vi phạm tội của mình. Gia đình bị cáo có công với Cách mạng (Bố bị cáo là bệnh binh), do đó Hội đồng xét xử áp dụng để giảm cho bị cáo một phần hình phạt nhằm thể hiện chính sách khoan hồng nhân đạo của pháp luật Nhà nước ta.

Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo phạm tội không vì mục đích lợi nhuận vì vậy Hội đồng xét xử miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.

Về vật chứng:

Đối với 11,6117 gam ma túy còn lại sau khi giám định là tang vật của vụ án, là vật cấm lưu hành và 01 ống thủy tinh hình móc câu, đường kính 0,6cm, dài 7,6cm, rộng 3,5cm không còn giá trị sử dụng do đó tịch thu, tiêu hủy.

Đối với chiếc xe mô tô mang BKS 79N2 – 038.39 thu giữ của bị cáo là của ông Bùi Thức C. Tuy nhiên quá trình điều tra, xác minh chiếc xe nói trên là của ông Nguyễn Văn H, trú tại thôn Tân Y, xã Ea L, huyện Sông H, tỉnh Phú Yên. Ông H đã bị mất trộm năm 2016, do vậy Cơ quan CSĐT, Công an huyện Krông N tách ra để xử lý sau.

Đối với 01 điện thoại hiệu Redmi, màu đen, đã qua sử dụng; 01 điện thoại hiệu Nokia, màu đen, đã qua sử dụng và 500.000đ là tài sản của bị cáo, không liên quan đến vụ án, cho nên tuyên trả lại cho bị cáo, nhưng tiếp tục tạm giữ số tiền 200.000đ để đảm bảo thi hành án.

Đối với người đàn ông tên D đã bán ma túy cho bị cáo, hiện nay chưa xác minh được nhân thân lai lịch vì vậy Công an tách ra tiếp tục xác minh, xử lý sau.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm g khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 46 và Điều 47 của Bộ luật hình sự.

Áp dụng các Điều 106; 331; 333; 337 của Bộ luật tố tụng hình sự;

Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Bùi Thức V phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Về hình phạt chính: Xử phạt bị cáo Bùi Thức V 05 (Năm) năm, 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 11 tháng 5 năm 2021.

Về hình phạt bổ sung: Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.

Về vật chứng:

Tịch thu tiêu hủy 11,6117 gam ma túy còn lại sau khi giám định và 01 ống thủy tinh hình móc câu, đường kính 0,6cm, dài 7,6cm, rộng 3,5cm.

Trả lại cho bị cáo 01 điện thoại hiệu Redmi, màu đen, đã qua sử dụng; 01 điện thoại hiệu Nokia, màu đen, đã qua sử dụng và 500.000đ, nhưng tiếp tục tạm giữ số tiền 200.000đ để đảm bảo thi hành án.

(Vật chứng có đặc điểm như trong biên bản giao nhận ngày 28 tháng 7 năm 2021 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra, Công an huyện Krông Năng với Chi cục thi hành án dân sự huyện Krông Năng được lưu hồ sơ vụ án).

Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000đ tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo và đương sự có mặt tại phiên tòa, có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa, có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày niêm yết bản án.

Cỡ chữ