vanban.org

Bản án 44/2021/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Chi Lăng, tỉnh Lạng Sơn Tuyên án 21/09/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Điểm a, b khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106; khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136; các Điều 331; 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Điểm a khoản 1 Điều 3; khoản 1 Điều 6; khoản 1 Điều 21; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn K phạm tội Mua bá… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn K - Mua bán trái phép chất ma túy - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS n…"
  • Tòa quyết gì? Điểm a, b khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106; khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136; các Điều 331; 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 251 Bộ luật Hình sự; Điều 292 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CHI LĂNG
TỈNH LẠNG SƠN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 44/2021/HS-ST
Ngày 21-9-2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHI LĂNG, TỈNH LẠNG SƠN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Trương Thị Hương Giang.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Hoàng Văn Nguyên;

Ông Vi Thành Trung.

- Thư ký phiên toà: Bà Triệu Thị Phương - Thư ký Toà án nhân dân huyện Chi Lăng, tỉnh Lạng Sơn.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chi Lăng, tỉnh Lạng Sơn tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Vân - Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 9 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Chi Lăng xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hình sự thụ lý số: 38/2021/TLST-HS ngày 07 tháng 9 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 43/2021/QĐXXST-HS, ngày 10 tháng 9 năm 2021 đối với bị cáo:

Nguyễn Văn K, sinh ngày 13 tháng 10 năm 1980 tại huyện C, tỉnh Lạng Sơn; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Thôn N, xã G, huyện C, tỉnh Lạng Sơn; chỗ ở hiện nay: Thôn N, xã T, huyện C, tỉnh Lạng Sơn; nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Nùng; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Nguyễn Văn O và con bà: Triệu Thị N; vợ: Hoàng Thị C, con: Có 02 con (lớn sinh năm 2004, nhỏ sinh năm 2011); tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 26/5/2005 bị Tòa án nhân dân tỉnh Lạng sơn xử phạt 07 năm tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy; ngày 18/5/2015 bị Tòa án nhân dân huyện Chi Lăng, tỉnh Lạng sơn xử phạt 02 năm 06 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy; bị cáo bị tạm giữ, tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện C, tỉnh Lạng Sơn từ ngày 16 tháng 6 năm 2021 đến nay; có mặt.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

1. Anh Hoàng Văn S, sinh năm 1991; trú tại: Thôn N, xã T, huyện C, tỉnh Lạng Sơn; vắng mặt.

2. Anh Triệu Văn H, sinh năm 1984; trú tại: Thôn N, xã T, huyện C, tỉnh Lạng Sơn; vắng mặt.

Người làm chứng: Anh Triệu Văn Y; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 21 giờ 40 phút ngày 16/6/2021, tổ công tác Công an huyện C làm nhiệm vụ tại thôn N, xã T, huyện C, tỉnh Lạng Sơn thì phát hiện tại nhà ở của Triệu Văn H có các đối tượng gồm: Hoàng Văn S, Triệu Văn Y có biểu hiện nghi vấn phạm tội về ma túy. Tiến hành kiểm tra Hoàng Văn S phát hiện, thu giữ tại túi quần đằng trước bên phải đang mặc của S có 01 (một) gói giấy bạc màu vàng trắng bên trong có chứa chất bột màu trắng. S khai nhận đó là ma túy Heroine vừa mua của Nguyễn Văn K. Tiến hành kiểm tra Triệu Văn H và Triệu Văn Y không phát hiện, thu giữ gì.

Cùng ngày, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Chi Lăng, tỉnh Lạng Sơn đã giữ người trong trường hợp khẩn cấp đối với Nguyễn Văn K, thu giữ số tiền 500.000đ (năm trăm nghìn đồng). Khám xét khẩn cấp nơi ở của Nguyễn Văn K phát hiện, thu giữ tại đầu giường ngủ của K có 06 (sáu) xi lanh loại 3ml/cc, trong đó có 03 (ba) chiếc xi lanh đã qua sử dụng và 03 (ba) lọ nước cất Novocain 3% chưa qua sử dụng.

Tại Bản kết luận giám định số 226/KL-PC09 ngày 18/6/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự, Công an tỉnh Lạng Sơn kết luận: Chất bột màu trắng có trong 01 gói giấy (thu giữ của Hoàng Văn S) được niêm phong trong phong bì thư ký hiệu số 01 gửi giám định là chất ma túy Heroine, có khối lượng 0,035 gam (đã trừ bì).

Tại Bản kết luận giám định số 296/KLGĐ-PC09 ngày 23/6/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự, Công an tỉnh Lạng Sơn kết luận: Toàn bộ số tiền Việt Nam (thu giữ của Nguyễn Văn K) trong phong bì niêm phong gửi giám định là tiền thật.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Văn K khai nhận: Do có nhu cầu sử dụng ma túy Heroine nên sáng ngày 16/6/2021, bị cáo đi nhờ xe ô tô tải, không nhớ biển kiểm soát của một người đàn ông không quen biết đến khu vực C, thuộc xã Y, huyện V, tỉnh Lạng Sơn để tìm mua ma túy. Tại đây, bị cáo đi vào trong chợ thì thấy một người đàn ông không quen biết, khoảng 40 tuổi, có những đặc điểm giống người nghiện ma túy nên hỏi mua ma túy và đưa cho người đàn ông này 200.000 đồng. Sau khi nhận tiền, người này đưa cho bị cáo 01 (một) gói giấy màu trắng có dòng kẻ, bên trong có chứa chất ma túy Heroine. Mua được ma túy xong, bị cáo đi nhờ xe ô tô tải khác không nhớ biển kiểm soát của một người đàn ông không quen biết khác để về nhà. Khi về đến nhà, bị cáo đi vào phòng ngủ của mình rồi chia số ma túy vừa mua được thành 04 (bốn) gói nhỏ ma túy, mỗi gói được bọc bằng giấy bạc màu vàng trắng cắt từ vỏ bao thuốc lá ra. Sau đó, một mình tự sử dụng hết 02 (hai) gói ma túy bằng hình thức chích tại phòng ngủ, 02 (hai) gói ma túy còn lại bị cáo để vào túi quần đang mặc.

Đến khoảng 21 giờ 00 phút ngày 16/6/2021, bị cáo một mình đi bộ đến nhà Triệu Văn H để xem đá bóng, khi đi mang theo 02 (hai) gói ma túy đã để sẵn ở túi quần trước đó. Khi đến nhà H, bị cáo thấy H đang ngồi ở ghế xem tivi, còn Hoàng Văn S đang nằm ở giường. bị cáo đi đến giường mà S đang nằm và ngồi ở đó thì S hỏi “anh có cho em hai cái” (nghĩa là có ma túy không, nếu có thì bán cho hai gói). Bị cáo đồng ý. S đưa cho bị cáo 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng), bị cáo cầm tiền đồng thời lấy trong túi quần ra 02 (hai) gói ma túy đưa cho S. Mua được ma túy, S một mình đi xuống nhà bếp của H tự sử dụng hết 01 (một) gói ma túy bằng hình thức chích, 01 (một) gói ma túy còn lại S để vào túi quần đằng trước bên phải đang mặc, còn bị cáo sau đó đi về nhà. Khi bị cáo vừa đi khỏi nhà H thì Triệu Văn Y đến nhà H chơi, lúc này S vẫn đang ở dưới bếp, còn H đang xem ti vi. Sử dụng ma túy xong, S đi lên trên nhà cùng xem ti vi với H và Y. Đến khoảng 21 giờ 40 phút cùng ngày, Công an huyện C, tỉnh Lạng Sơn kiểm tra phát hiện, bắt quả tang cùng tang vật.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Anh Hoàng Văn S có lời khai tại Cơ quan điều tra thể hiện: Do bản thân nghiện ma túy nên khi thấy Nguyễn Văn K đến nhà Triệu Văn H chơi nên S đã hỏi K để mua 02 gói ma túy với giá 200.000 đồng; sau khi mua được ma túy S đã sử dụng luôn 01 gói bằng hình thức chích ngay tại nhà bếp của Triệu Văn H, việc S mua ma túy với K và tự sử dụng ma túy tại nhà Triệu Văn H không ai biết. Anh Triệu Văn H có lời khai tại Cơ quan điều tra thể hiện: Không biết việc Nguyễn Văn K bán ma túy cho Hoàng Văn S và sử dụng ma túy tại nhà của mình. Người làm chứng anh Triệu Văn Y có lời khai tại Cơ quan điều tra: Anh không biết việc Nguyễn Văn K bán ma túy cho Hoàng Văn S và sử dụng ma túy tại nhà của Triệu Văn H.

Cáo trạng số: 44/CT-VKSCL ngày 06 tháng 9 năm 2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Chi Lăng, tỉnh Lạng Sơn đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn K về tội Mua bán trái phép chất ma túy theo quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Kiểm sát viên giữ quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên Cáo trạng truy tố và phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án, đồng thời đánh giá tính chất, động cơ, mục đích, tác hại của hành vi phạm tội mà bị cáo gây ra, đánh giá về nhân thân, tình tiết giảm nhẹ, tình tiết tăng nặng áp dụng đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn K phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy.

Về hình phạt: Căn cứ khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38, 50 của Bộ luật Hình sự 2015. Đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Văn K từ 03 năm đến 03 năm 06 tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Về vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, b khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy toàn bộ số ma túy và vỏ giấy gói còn lại sau giám định, 06 (sáu) xi lanh loại 3ml/cc, trong đó có 03 (ba) chiếc xi lanh đã qua sử dụng và 03 (ba) lọ nước cất Novocain 3% chưa qua sử dụng; tịch thu nộp ngân sách nhà nước số tiền 200.000 đồng; trả lại số tiền 300.000 đồng cho bị cáo Nguyễn Văn K.

Phần tranh luận: Bị cáo Nguyễn Văn K không có ý kiến tranh luận gì.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về sự vắng mặt của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Anh Hoàng Văn S, anh Triệu Văn H; người làm chứng là anh Triệu Văn Y không làm ảnh hưởng đến việc xét xử vụ án vì trong hồ sơ đã có đủ lời khai của họ nên Hội đồng xét xử căn cứ Điều 292, 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự để tiếp tục xét xử vụ án.

[3] Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Văn K đã khai nhận rõ hành vi phạm tội của mình như tại cơ quan điều tra, lời khai của bị cáo phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ, cụ thể: Khoảng 21 giờ 00 phút ngày 16/6/2021, tại nhà ở của Triệu Văn H, Nguyễn Văn K đã có hành vi bán trái phép 02 (hai) gói ma túy Heroine cho Hoàng Văn S với giá 200.000đ (hai trăm nghìn đồng). Hoàng Văn S đã sử dụng hết 01 (một) gói, còn 01 (một) gói có khối lượng 0,035 gam đang để trong túi quần thì bị Công an huyện C, tỉnh Lạng Sơn phát hiện bắt quả tang. Như vậy, có đủ cơ sở để kết luận bị cáo Nguyễn Văn K phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy theo quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự năm 2015.

[4] Cáo trạng số 44/CT-VKSCL ngày 06 tháng 9 năm 2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Chi Lăng, tỉnh Lạng Sơn đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn K về tội Mua bán trái phép chất ma túy theo quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự năm 2015 là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[5] Hành vi của bị cáo Nguyễn Văn K là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy, hành vi đó gây ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự của địa phương, gây hoang mang trong quần chúng nhân dân, là nguyên nhân dẫn đến các tệ nạn xã hội và tội phạm khác. Bị cáo là người có thể chất phát triển bình thường, có đầy đủ năng lực hành vi, năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được tác hại của ma túy đối với con người và những ảnh hưởng tiêu cực của ma túy đối với mọi mặt của đời sống xã hội nhưng vẫn cố ý thực hiện hành vi phạm tội.

[6] Tuy nhiên khi quyết định hình phạt Hội đồng xét xử ngoài việc xem xét tính chất, mức độ của hành vi phạm tội như đã nêu ở trên, còn phải đánh giá về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo. Cụ thể như sau: Về nhân thân: Bị cáo Nguyễn Văn K là người nghiện ma túy có nhân thân không tốt đã từng bị Tòa án xét xử 02 lần, cụ thể: Ngày 26/5/2005 bị Tòa án nhân dân tỉnh Lạng sơn xử phạt 07 năm tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy; ngày 18/5/2015 bị Tòa án nhân dân huyện Chi Lăng, tỉnh Lạng sơn xử phạt 02 năm 06 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy tuy đã được xóa án tích nhưng không lấy đó làm bài học mà vẫn cố tình vi phạm pháp luật. Về tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; có bố đẻ là ông Nguyễn Văn O được Nhà nước tặng Huân chương kháng chiến hạng Ba và mẹ đẻ là bà Triệu Thị N được Nhà nước tặng Huy chương kháng chiến hạng Nhất nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015. Tình tiết tăng nặng: Không có.

[7] Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử thấy cần cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục trở thành người có ích cho xã hội, đồng thời nhằm răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung. Kiểm sát viên thực hành quyền công tố tại phiên tòa đề nghị về tội danh, về hình phạt đối với bị cáo Nguyễn Văn K và về xử lý vật chứng là có căn cứ.

[8] Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có thu nhập ổn định, không có tài sản riêng nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo, điều này phù hợp với kết quả xác minh của Cơ quan Điều tra.

[9] Về vật chứng: Đối với số ma túy còn lại sau giám định là vật cấm lưu hành; vỏ giấy gói, 06 (sáu) xi lanh loại 3ml/cc và 03 (ba) lọ nước cất Novocain 3% chưa qua sử dụng không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy theo quy định; tịch thu nộp ngân sách nhà nước số tiền 200.000 đồng do phạm tội mà có; còn số tiền 300.000 đồng thu giữ của bị cáo Nguyễn Văn K, không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo nên cần trả lại.

[10] Đối với hai người đàn ông lái xe ô tô tải đã cho bị cáo Nguyễn Văn K đi nhờ, để đi mua ma túy ngày 16/6/20121. Do không có thông tin cụ thể nên không thể tiến hành điều tra, xác minh.

[11] Đối với người đàn ông đã bán ma túy cho bị cáo tại C, thuộc xã Y, huyện V, tỉnh Lạng Sơn, do bị cáo không biết được tên, tuổi, địa chỉ cụ thể của người đàn ông này nên Cơ quan điều tra không có căn cứ để điều tra, xác minh và xử lý, khi nào làm rõ sẽ xử lý sau.

[12] Đối với Hoàng Văn S là người đã mua ma túy với bị cáo Nguyễn Văn K, mục đích để sử dụng. Do khối lượng chất ma túy bị thu giữ không đủ định lượng, qua xác minh S chưa có tiền án, tiền sự nên không có căn cứ để truy cứu trách nhiệm hình sự. Công an huyện C đã chuyển hồ sơ vi phạm cho Ủy ban nhân dân xã T, huyện C để xử lý vi phạm hành chính theo quy định.

[13] Đối với Triệu Văn H và Triệu Văn Y, không biết việc bị cáo Nguyễn Văn K bán ma túy cho Hoàng Văn S tại nhà H và không biết Hoàng Văn S sử dụng trái phép chất ma túy tại nhà ở của H nên không có căn cứ xem xét, xử lý.

[14] Trong quá trình điều tra, Triệu Văn H, Triệu Văn Y khai nhận trong ngày 16/6/2021 đã một mình đi sang C, xã Y, huyện V, tỉnh Lạng Sơn mua ma túy với một người đàn ông không quen biết và đều đã tự sử dụng hết. Do vậy không có căn cứ để truy cứu trách nhiệm hình sự. Công an huyện C đã chuyển hồ sơ vi phạm cho Ủy ban nhân dân xã T, huyện C để xử lý vi phạm hành chính theo quy định.

[15] Về án phí: Do bị cáo Nguyễn Văn K bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

[16] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo bản án theo quy định tại các Điều 331, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38, 50; khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Điểm a, b khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106; khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136; các Điều 331; 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Điểm a khoản 1 Điều 3; khoản 1 Điều 6; khoản 1 Điều 21; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn K phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy.

2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn K 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam, ngày 16 tháng 6 năm 2021.

3. Về xử lý vật chứng:

3.1. Tịch thu tiêu hủy 01 (một) phong bì thư ký hiệu số “01” (cũ) đã niêm phong bên trong có 01 (một) gói giấy đựng 0.021 gam ma túy Heroine (phần hao hụt do sử dụng làm mẫu vật giám định hết) và vỏ giấy gói; 06 (sáu) xi lanh loại 3ml/cc, trong đó có 03 (ba) chiếc xi lanh đã qua sử dụng và 03 (ba) lọ nước cất Novocain 3%.

3.2. Tịch thu nộp ngân sách nhà nước số tiền 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng).

3.3. Trả lại cho bị cáo Nguyễn Văn K số tiền 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng).

(Theo biên bản giao, nhận vật chứng giữa Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an huyện Chi Lăng và Chi cục Thi hành án dân sự huyện C lập ngày 07 tháng 9 năm 2021).

4. Về án phí: Bị cáo Nguyễn Văn K phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí sơ thẩm hình sự để sung công quỹ Nhà nước.

5. Quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Cỡ chữ