vanban.org

Bản án 44/2021/HS-PT — Hình sự

TAND tỉnh Bình Dương Tuyên án 31/03/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Đặng Văn H - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Căn cứ chính? Điều 355 Bộ luật Tố t ng hình sự; Điều 356 Bộ luật Tố t ng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH BÌNH DƢƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 44/2021/HS-PT
Ngày 31-3-2021

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƢƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: ông Lê Quân Vương.

Các Thẩm phán: ông Nguyễn Huỳnh Đức.

Ông Nguyễn Văn Tài.

- Thư ký phiên tòa: bà Lê Thị Thùy – Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Bình Dương.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: bà Hồ Minh Châu - Kiểm sát viên.

Trong các ngày 29 và 31 tháng 3 năm 2021, t i tr s Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương m phiên tòa phúc thẩm công khai xét xử v án hình sự phúc thẩm th lý số: 270/2020/TLPT-HS ngày 24 tháng 12 năm 2020 đối với bị cáo Đặng Văn H. Do có kháng cáo của bị đơn dân sự và kháng nghị của Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 270/2020/HS-ST ngày 05 tháng 11 năm 2020 của Tòa án nhân dân thành phố T, tỉnh Bình Dương.

- Bị cáo bị kháng cáo, kháng nghị:

Đặng Văn H, sinh ngày 06/4/1990 t i tỉnh Quảng Bình; nơi cư trú: Thôn K, xã C, huyện T1, tỉnh Quảng Bình; nghề nghiệp: lái xe; trình độ văn hóa (học vấn): 8/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đặng Văn H và bà Nguyễn Thị H; có vợ là bà Hoàng Thị C, sinh năm 1994 và 01 con sinh năm 2017; tiền án: không, tiền sự: không; nhân thân: không; bị cáo bị bắt t m giam từ ngày 28/5/2018 cho đến ngày 05/11/2020 (được khấu trừ vào thời gian chấp hành án), bị cáo có mặt t i phiên tòa.

- Bị hại: Ông Nguyễn Phú T, sinh năm 1978; địa chỉ: Ấp 1A, xã Thanh P, huyện Bến L, tỉnh Long An (có mặt).

- Bị đơn dân sự kháng cáo: Công ty Trách nhiện hữu h n C; địa chỉ tr s chính: Lầu 19, G, Số 2, Bis-4-6, đường L, phường B, Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Thế D, sinh năm 1971; địa chỉ: Số 7C, đường H, Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nhữ Duy T, sinh năm 1961; địa chỉ: Số 28, đường M, Phường 19, quận K, Thành phố Hồ Chí Minh (có mặt).

- Nguyên đơn dân sự: Công ty Trách nhiệm hữu h n Thương m i Sản xuất nhựa xốp N; địa chỉ tr s chính: Quốc lộ 1A, xã H, huyện Bến L, tỉnh Long An.

- Người đại diện theo pháp luật: Ông Trần L, sinh năm 1973; địa chỉ: Số 164, đường Q, Phường 3, Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Người đại diện theo ủy quyền: Ông Trần Ph m D, sinh năm 1987; địa chỉ: Ấp 1, xã Lương B, huyện Bến L, tỉnh Long An (có mặt).

- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn dân sự: Ông Nguyễn Doãn H là Luật sư Công ty Luật hợp danh E thuộc Đoàn luật sư tỉnh Bình Dương (có mặt).

-Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị đơn dân sự: Ông Nguyễn Tiến H, là Luật sư chi nhánh Văn phòng luật sư V, thuộc Đoàn luật sư Thành phố Hồ Chí Minh (có mặt).

Trong v án còn có 04 người có quyền lợi nghĩa v liên quan, do không có kháng cáo và không bị kháng nghị nên tòa án không triệu tập.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ v án và diễn biến t i phiên tòa, nội dung v án được tóm tắt như sau:

Đặng Văn H có Giấy phép lái xe h ng FC số 3100117003891 do S giao thông vận tải Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 26/8/2015, có giá trị đến ngày 26/8/2020, là lái xe cho Công ty Trách nhiệm hữu h n C (viết tắt Công ty C).

Nguyễn Phú T có Giấy phép lái xe h ng C số 800099002370 do S giao thông vận tải tỉnh Long An cấp ngày 03/8/2015, có giá trị đến ngày 03/8/2020, là lái xe cho Công ty Trách nhiệm hữu h n Thương m i Sản xuất nhựa xốp N (viết tắt là Công ty N).

Khoảng 20 giờ ngày 30/12/2017, sau khi lấy thùng hàng container chứa giấy v n t i cảng G, thuộc phường G, Quận 2, Thành phố Hồ Chí Minh. Đặng Văn H điều khiển xe ôtô đầu kéo, biển số 51C – 851.53 kéo theo rơ moóc biển số 51R – 5826 đi từ cảng G đến Khu công nghiệp P 2 (thuộc thị xã I, tỉnh Bình Dương) để giao hàng cho Công ty V. Đến khoảng 23 giờ 15 phút cùng ngày 30/12/2017, khi Đặng Văn H điều khiển xe ô tô đầu kéo đến giao lộ P – T và đường Ph m Ngọc T(H đi từ hướng thành phố A về thành phố T) với vận tốc khoảng 49km/h thì đèn tín hiệu giao thông đang tín hiệu đèn đỏ nhưng Đặng Văn H không giảm tốc độ, dừng l i mà điều khiển cho xe ô tô tải đầu kéo vượt đèn đỏ vào giao lộ. Cùng lúc này, ông Nguyễn Phú T điều khiển xe ô tô tải biển số 51C – 635.52 lưu thông trên đường Ph m Ngọc T, theo hướng từ giao lộ giữa đường Ph m Ngọc T và Huỳnh Văn L đến giao lộ giữa đường Ph m Ngọc Tvà đường Nguyễn Đức T thì đèn tín hiệu giao thông bật đèn xanh nên ông Nguyễn Phú T điều khiển xe đi vào giao lộ, do Đặng Văn H vượt đèn đỏ nên đã xảy ra tai n n, phần hông bên phải xe ô tô đầu kéo do Đặng Văn H điều khiển va ch m vào đầu xe ô tô tải do ông Nguyễn Phú T điều khiển. Hậu quả ông Nguyễn Phú T bị thương tích nặng (gãy chân trái), hai phương tiện hư hỏng nặng, làm hư hỏng hàng rào, mái tôn của Công ty X, gãy một tr điện của Chi nhánh Điện lực T, gãy một cây dầu của Ban quản lý Phát triển Khu liên hợp – Tổng Công ty Đầu tư và Phát triển công nghiệp – CTCP Ban quản lý Phát triển Khu công nghiệp liên hợp Bình Dương.

T i Biên bản khám nghiện hiện trường ngày 30/12/2017 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T, tỉnh Bình Dương, thể hiện như sau:

Hiện tr ng của đo n đường nơi xảy ra tai n n: Khu vực giao lộ giữa đường P– T và đường Ph m Ngọc T t i đây được tráng nhựa bằng phẳng, có hệ thống đèn chiếu sáng đang ho t động, hệ thống đèn tín hiệu giao thông đang ho t động. Đường P– T t i đây là đường hai chiều, mỗi bên gồm có ba làn đường, giữa đường có dãy phân cách bằng bê tông trồng cây xanh, tình hình xe cộ qua l i trên đường thưa.

Sau tai n n xảy ra hiện trường còn để l i:

- Xe ô tô tải biển số 51C – 635.52 đang nằm giữa giao lộ, đầu xe quay hướng chéo vào mép trái đường P– T và hướng về giao lộ P– T và đường Trần Ngọc L, tr c bánh trước bên phải xe cách mép phải đường Ph m Ngọc T được giới h n trong giao lộ là 6m và cách mép phải đường P– T được giới h n trong giao lộ là 5,3m, tr c bánh sau xe bên phải cách mép phải đường P– T được giới h n trong giao lộ là 3,6m. Vết chà sát mặt đường của hai bánh trước gồm có hai vết song song nhau, vết thứ nhất dài 4,9m, điểm bắt đầu vết này cách mép phải đường P– T được giới h n trong giao lộ là 7m, điểm kết thúc vết này trùng với vị trí bánh trước bên trái, vết thứ hai dài 6m, điểm bắt đầu vết này, cách điểm bắt đầu vết thứ nhất là 2m và cách tr c bánh sau bên trái xe là 1,6m. Vết chà sát mặt đường của hai bánh sau gồm có hai vết song song nhau, vết thứ nhất dài 3,7m, điểm bắt đầu vết này cách cách mép phải đường Ph m Ngọc T được giới h n trong giao lộ là 12,3m và cách mép phải đường P– T được giới h n trong giao lộ là 1,8m, điểm kết thúc vết này trùng với vị trí bánh sau bên phải.

Xe ô tô đầu kéo biển số 51C – 851.53 kéo theo sơ mi rơ mooc biển số 51R – 5826 đang tình tr ng ngã nghiêng sang trái và nằm trên phần đường bên phải của đường P– T, đầu xe quay hướng chéo vào mép phải đường P– T và hướng về giao lộ P– T và đường Trần Ngọc L, tr c bánh trước bên trái xe cách mép phải đường P– T là 1,9m, tr c bánh sau cùng bên trái của sơ mi rơ mooc cách mép phải đường P– T là 7,9m và cách mép phải đường Ph m Ngọc T được giới h n trong giao lộ là 7,6m. Vết chà sát mặt đường do bánh xe của xe ô tô và sơ mi rơ mooc này để l i trên mặt đường t o thành hai hệ thống vết hình uốn cung, song song nhau. Vết thứ nhất dài 18,6m, điểm bắt đầu vết này cách mép phải đường P– T được giới h n trong giao lộ là 9m và cách mép phải đường Ph m Ngọc T được giới h n trong giao lộ là 13,8m, vết thứ hai dài 18,3m, điểm bắt đầu vết này cách mép phải đường P– T là 8,2m và cách mép phải đường Ph m Ngọc T đươc giới h n trong giao lộ là 13,6m, điểm kết thúc hai vết này trùng với điểm bắt đầu các vết trầy xước mặt đường P– T kéo dài đến vị trí xe ô tô đầu kéo và sơ mi rơ mooc. Thùng hàng (container) của xe đầu kéo bị văng ra kh i sơ mi rơ mooc và ngã sang trái, góc trước bên trái vị trí dưới cùng cách mép phải đường P– T là 4,6m, góc sau bên trái vị trí dưới cùng cách mép phải đường P– T là 7,1m và cách tr c bánh sau cùng bên trái sơ mi rơ mooc là 3m.

- Trên hành lang bộ bên phải đường P– T c nh đầu xe ô tô biển số 51C – 851.53 phát hiện 01 cây dầu bị gãy rời giữa thân, một tr điện bị gãy rời giữa thân và ngã vào tường rào Công ty X.

- Biên bản khám nghiệm xe ô tô đầu kéo biển số 51C – 851.53 và sơ mi rơ mooc biển số 51R - 5826 ngày 31/12/2017 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T, tỉnh Bình Dương thể hiện như sau:

- Xe ô tô đầu kéo biển số 51C – 851.53: Trầy xước, rách mặt trước lưới tản nhiệt đầu xe, kích thước (136 x 77) cm; cản trước bị cong vênh và th ng móp ra sau t i vị trí giữa, có vết trầy xước và dính vết gỗ, đất kích thước (110 x 40) cm; biển số phía trước biến d ng th ng móp vị trí giữa; chắn biên phía trước của hệ thống bánh sau bên phải bị cong vênh ra sau; đầu ngoài của thanh sắt ngang bị trầy xước. Hệ thống bánh sau bên phải t i vị trí mặt ngoài bánh phía trước bị trầy xước kích thước (160x20)cm, có vết thủng bánh xe kích thước (34 x 18) cm, mặt ngoài rãnh bánh xe này bị trầy xước, kích thước (92 x 2) cm, mặt ngoài bánh sau bị trầy xước, kích thước (190 x 20) cm.

- Sơ mi rơ mooc biển số 51R – 5826: Mặt bên phải thùng hàng (container) t i vị trí nửa trước bị trầy xước, biến d ng kích thước (3,1 x 1,6)cm, vết này cao cách nền đất là 1,4 cm; c nh dưới cùng thùng hàng có nhiều mảnh vỡ kính nhỏ; c nh trước sơ mi rơ mooc t i góc bên phải kéo dài đến mặt bên phải bị trầy xước sơn, kim lo i, kích thước (22 x 18) cm, vết này cao cách nền đất 116 cm, vị trí này có dính mảnh vỡ nhựa màu đen, kích thước (1,2 x 2) cm. Toàn bộ mặt bên trái thùng hàng bị trầy xước, vùng nửa sau bị biến d ng; trầy xước mặt ngoài các bánh bên trái.

- Biên bản khám nghiệm xe ô tô tải biển số 51C- 635.52 ngày 31/12/2017 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T, tỉnh Bình Dương thể hiện như sau: biến d ng toàn bộ đầu xe và cong vênh sang phải; góc trước bên trái phía trên cabin bị biến d ng th ng móp kim lo i, trầy xước và dính vết sơn màu xanh, kích thước (90 x 55) cm; vỡ toàn bộ kính chắn gió phía trước; cản trước biến d ng, trầy xước, th ng móp và dính vết màu đen, kích thước (42 x 110) cm; mặt ngoài cửa trước bên trái biến d ng toàn bộ và vỡ kính, có dính vết sơn màu xanh, kích thước (48 x 32) cm; cửa bên phải bị biến d ng vỡ kính; biển số phía trước bị th ng móp đo n giữa ra sau, vỡ lớp nhựa trong bọc bên ngoài. Bên trong cabin ngay dưới ghế tài xế và trên bậc lên xuống cabin có nhiều vết màu nâu đỏ d ng nhỏ giọt và đọng vũng đã khô.

Bản kết luận định giá tài sản số 377/KLTS-TTHS ngày 23/11/2018 của Hội đồng định giá tài sản trong tố t ng hình sự thành phố T, kết luận: tr điện lo i 8,5 m trị giá 8.343.000 đồng; cây dầu đường kính gốc 14cm, cao 10 mét, trị giá 1.691.000 đồng; vĩ hàng rào khung sắt hàn lưới kẽm ca rô kích thước (6 x 3) m, trị giá 3.000.000 đồng; 01 tr sắt chữ “I” lo i 115mm, dài 6m, trị giá 2.500.000 đồng; máng xối mái tôn bị biếng d ng một phần, trị giá 300.000 đồng; ống nước máng xối bị vỡ một phần, trị giá 200.000 đồng; một tấm tôn bị biến d ng, trị giá 100.000 đồng. Tổng giá trị tài sản bị thiệt h i là 18.187.400 đồng (mười tám triệu một trăm tám mươi bảy ngàn bốn trăm đồng).

Bản kết luận định giá tài sản số 137/KLTS-TTHS, ngày 02/5/2019 của Hội đồng định giá tài sản trong tố t ng hình sự thành phố T kết luận: Tổng giá trị tài sản bị thiệt h i của chiếc xe ô tô tải biển số 51C – 635.52 là 684.310.000 đồng (sáu trăm tám mươi bốn triệu ba trăm mười ngàn đồng).

Bản Kết luận giám định pháp y về thương tích số 204/2018/GĐPY ngày 08 tháng 6 năm 2018 của Trung tâm Pháp y tỉnh Bình Dương đối với Nguyễn Phú T, kết luận: Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên hiện t i là 48% (bốn mươi tám phần trăm) theo bảng tỷ lệ tổn thương cơ thể ban hành kèm theo thông tư số 20/2014/TT-BYT do Bộ Y tế ban hành ngày 12/6/2014.

* Về trách nhiệm dân sự:

Ông Trần Ph m D là người đ i diện theo ủy quyền của Văn phòng đ i diện Công ty N yêu cầu Đặng Văn H và chủ phương tiện xe ô tô đầu kéo biển số 51C – 851.53 là Công ty C bồi thường cho Công ty N số tiền 1.090.520.892 đồng (một tỷ không trăm chín mươi triệu năm trăm hai mươi nghìn tám trăm chín mươi hai đồng) tương đương phần giá trị bị thiệt h i của xe ô tô tải biển số 51C – 63552.

- Bị h i ông Nguyễn Phú T yêu cầu bồi thường chi phí điều trị thương tích, tiền công lao động bị mất, tiền công người chăm sóc nuôi bệnh, chi phí đi l i điều trị thương tích, tiền tổn thất tinh thần 204.500.000 đồng (hai trăm lẻ bốn triệu năm trăm nghìn đồng) trừ vào số tiền 20.000.000 đồng (hai mươi triệu đồng) bị cáo đã bồi thường trước đây.

T i Bản án hình sự sơ thẩm số 270/2020/HS-ST ngày 05 tháng 11 năm 2020 của Tòa án nhân dân thành phố T, tỉnh Bình Dương đã quyết định:

Tuyên bố bị cáo Đặng Văn H ph m tội “Vi ph m quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

1/ Về hình ph t: Áp d ng điểm g khoản 2 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 54, Điều 48 của Bộ luật Hình sự.

Xử ph t bị cáo Đặng Văn H 02 (hai) năm 05 (năm) tháng 08 (tám) ngày tù. Thời h n ph t tù tính từ ngày 28/5/2018, được khấu trừ thời h n t m giam trước đây từ ngày 28/5/2018 đến ngày 05/11/2020 (bị cáo đã chấp hành xong).

Áp d ng khoản 5 Điều 328 của Bộ luật Tố t ng hình sự: Tuyên trả tự do cho bị cáo Đặng Văn H ngay t i phiên tòa nếu bị cáo không bị t m giữ, t m giam về một tội ph m khác.

2/ Về trách nhiệm dân sự:

Ghi nhận sự thỏa thuận giữa bị cáo Đặng Văn H và Công ty TNHH C; buộc Công ty Trách nhiệm hữu h n C và bị cáo Đặng Văn H có nghĩa v liên đới bồi thường số tiền 184.500.000 đồng (một trăm tám mươi bốn triệu năm trăm nghìn đồng) cho ông Nguyễn Phú T và bồi thường 684.310.000 đồng (sáu trăm tám mươi bốn triệu ba trăm mười nghìn đồng) cho Công ty Trách nhiệm hữu h n Thương m i Sản xuất nhựa xốp N.

Ngoài ra bản án sơ thẩm còn tuyên về án phí và quyền kháng cáo theo quy định.

Ngày 13/11/2020, bị đơn dân sự Công ty Trách nhiệm hữu h n C kháng cáo về phần trách nhiệm dân sự với lý do chưa đủ cơ s pháp lý buộc tội bị cáo Đặng Văn H ph m tội “Vi ph m quy định về tham gia giao thông đường bộ” nên bị đơn dân sự không đồng ý bồi thường cho bị h i và nguyên đơn dân sự.

Ngày 04 tháng 12 năm 2020, Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương ban hành quyết định kháng nghị số: 01/QĐ-VKS về việc kháng nghị một phần Bản án hình sự sơ thẩm số: 270/2020/HS-ST ngày 05 tháng 11 năm 2020 của Tòa án nhân dân thành phố T, tỉnh Bình Dương về trách nhiệm bồi thường dân sự.

Đ i diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa trình bày quan điểm giải quyết v án: xác định tội danh, điều luật mà Tòa án cấp sơ thẩm xét xử và áp d ng đối với bị cáo Đặng Văn H là có căn cứ, đúng người, đúng tội. Sau khi xét xử sơ thẩm, bị đơn dân sự kháng cáo và Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương kháng nghị về phần bồi thường dân sự. Bị đơn dân sự cho rằng bị cáo không có lỗi nên bị đơn dân sự không có trách nhiệm bồi thường cho bị h i và nguyên đơn dân sự. Tuy nhiên, căn cứ vào các chứng cứ có t i hồ sơ và lời khai của bị cáo t i phiên tòa, có đủ cơ s nhận định tai n n xảy ra lỗi là do bị cáo vượt đèn đỏ. Bị đơn dân sự là pháp nhân giao phương tiện cho bị cáo tham gia giao thông nên có trách nhiệm bồi thường cho bị h i và nguyên đơn dân sự, sau đó có quyền yêu cầu bị cáo bồi thường l i. Ngoài ra, t i phiên tòa sơ thẩm, bị cáo và bị đơn dân sự đã thỏa thuận bồi thường cho bị h i và bị đơn dân sự nhưng Tòa án cấp sơ thẩm không xác định rõ phần trách nhiệm, mức bồi thường c thể của bị cáo và nguyên đơn dân sự là bao nhiêu đối với bị h i và bị đơn dân sự là không đảm bảo việc thi hành án được nhanh chóng, kịp thời, làm ảnh hư ng đến quyền, lợi ích hợp pháp của bị h i và nguyên đơn dân sự khi yêu cầu thi hành án. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo của bị đơn dân sự, chấp nhận kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương, sửa bản án hình sự sơ thẩm về phần trách nhiệm dân sự theo hướng xác định rõ trách nhiệm dân sự của bị cáo và bị đơn dân sự.

T i phiên tòa phúc thẩm, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi ph m tội và không có ý kiến tranh luận.

Bị cáo Đặng Văn H nói lời sau cùng: Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét.

NH N Đ NH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ s nội dung v án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ v án đã được tranh t ng t i phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Quyết định kháng nghị số: 01/QĐ-VKS ngày 04 tháng 12 năm 2020 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương, đơn kháng cáo của Công ty Trách nhiệm hữu h n C được thực hiện trong thời h n luật định nên đủ điều kiện để Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương giải quyết v án theo thủ t c phúc thẩm.

[2] T i phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Đặng Văn H đã khai nhận hành vi ph m tội thống nhất như nội dung bản án sơ thẩm và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ. Do đó, có đủ cơ s xác định: Ngày 30/12/2017, Đặng Văn H điều khiển xe ôtô đầu kéo biển số 51C – 851.53 kéo theo rơ moóc biển số 51R – 5826 đi từ Cảng G đến khu công nghiệp P2, thị xã I, tỉnh Bình Dương, khi đến giao lộ đường P– T và đường Ph m Ngọc T(H đi từ hướng thành phố Ađến thành phố T) thuộc khu phố 5, phường Phú Mỹ, thành phố T, tỉnh Bình Dương do vượt đèn đỏ nên đã để xảy ra va ch m với xe ô tô tải biển số 51C – 635.52 do ông Nguyễn Phú T điều khiển đi từ hướng Huỳnh Văn Lđến Quốc lộ 13. Hậu quả làm ông Nguyễn Phú T bị thương tích 48% (gãy chân trái), hai phương tiện hư hỏng nặng, hư hỏng hàng rào, mái tôn của Công ty X, gãy một tr điện của Chi nhánh điện lực T; gãy một cây dầu của Ban quản lý Phát triển Khu liên hợp Tổng công ty Đầu tư và Phát triển Công nghiệp Công ty Cổ phần Ban quản lý Phát triển Khu công nghiệp Liên hợp Bình Dương với tổng giá trị tài sản bị thiệt h i là 702.497.400 đồng (bảy trăm lẻ hai triệu bốn trăm chín mươi bảy nghìn bốn trăm đồng).

[3] Hành vi của Đặng Văn H đã vi ph m khoản 1 Điều 9; khoản 3 Điều 10 Luật Giao thông đường bộ và hội đủ yếu tố cấu thành tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” với tình tiết định khung được quy định t i điểm g khoản 2 Điều 260 của Bộ luật Hình sự. Do vậy, cấp sơ thẩm xét xử bị cáo với tội danh, điều luật và khung hình ph t như trên là có căn cứ, đúng người, đúng pháp luật.

[4] Xét kháng cáo của bị đơn dân sự Công ty Trách nhiệm hữu h n C kháng cáo về phần trách nhiệm dân sự với lý do chưa đủ cơ s pháp lý buộc tội bị cáo Đặng Văn H ph m tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”nên bị đơn dân sự không đồng ý bồi thường cho bị h i và nguyên đơn dân sự nhưng không đưa ra được chứng cứ gì mới chứng minh nên không có cơ s xem xét. T i phiên tòa phúc thẩm, bị h i và nguyên đơn dân sự thống nhất yêu cầu bị đơn dân sự phải có trách nhiệm bồi thường, bị cáo H xác định không còn tài sản gì khác để cùng liên đới bồi thường cho bị h i và nguyên đơn dân sự. Xét về lỗi chính gây ra tai n n là do bị cáo H không chấp hành tín hiệu giao thông, đã bị Tòa án sơ thẩm kết án và bị cáo không kháng cáo nên đã có hiệu lực pháp luật. Bị cáo là nhân viên lái xe, thực hiện công việc theo điều động của bị đơn dân sự và gây tai n n thì bị đơn dân sự phải có trách nhiệm bồi thường. Bị đơn dân sự có quyền kh i kiện bị cáo Đặng Văn H yêu cầu trả l i khoản tiền đã bồi thường bằng v kiện dân sự khác sau khi đã thực hiện xong nghĩa v bồi thường.

[5] Đối với kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương, xét cấp sơ thẩm ghi nhận sự thỏa thuận giữa bị cáo và bị đơn dân sự có trách nhiệm liên đới bồi thường cho bị h i và nguyên đơn dân sự nhưng không xác định rõ phần trách nhiệm bồi thường c thể, không thể hiện bị h i và nguyên đơn dân sự có đồng ý đối với thỏa thuận này, gây khó khăn trong việc thi hành án là có căn cứ chấp nhận.

[6] Ý kiến của đ i diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương, ý kiến đề nghị của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn dân sự đề nghị là phù hợp với quan điểm của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

[7] Ý kiến của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn dân sự đề nghị hủy án sơ thẩm là không có cơ s chấp nhận.

[8] Các phần khác của quyết định án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời h n kháng cáo, kháng nghị.

[9] Án phí hình sự phúc thẩm: do yêu cầu kháng cáo của bị đơn dân sự không được chấp nhận nên phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định của pháp luật. Do cấp sơ thẩm thông báo cho bị đơn dân sự nộp t m ứng án phí phúc thẩm 200.000 đồng là thiếu sót, cần rút kinh nghiệm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT Đ NH:

Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, các Điều 356 của Bộ luật Tố t ng hình sự năm 2015

1. Không chấp nhận kháng cáo của Công ty trách nhiệm hữu h n C; chấp nhận kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương về phần trách nhiệm bồi thường dân sự; sửa một phần Bản án hình sự sơ thẩm số: 270/2020/HS-ST ngày 05 tháng 11 năm 2020 của Tòa án nhân dân thành phố T, tỉnh Bình Dương về trách nhiệm bồi thường dân sự.

Áp d ng các Điều 584, 585, 586, 589, 590, 600 và 601 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

Buộc Công ty trách nhiệm hữu h n C có nghĩa v bồi thường 184.500.000 đồng (một trăm tám mươi bốn triệu năm trăm nghìn đồng) cho ông Nguyễn Phú T và bồi thường 684.310.000 đồng (sáu trăm tám mươi bốn triệu ba trăm mười nghìn đồng) cho Công ty Trách nhiệm hữu h n Thương m i Sản xuất nhựa xốp N.

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án nếu người phải thi hành án chậm thi hành thì còn phải trả tiền lãi, theo mức lãi suất quy định t i Điều 357, Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015 tương ứng với thời gian và số tiền chậm thi hành án.

Trường hợp bản án được thi hành theo qui định t i Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định t i các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định t i Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.

2. Án phí hình sự phúc thẩm:

Áp d ng Điều 135, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố t ng hình sự; Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường v Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử d ng án phí và lệ phí Tòa án.

Bị đơn dân sự Công ty Trách nhiệm hữu h n C phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự phúc thẩm và 38.064.300 đồng (ba mươi tám triệu không trăm sáu mươi bốn nghìn ba trăm đồng) án phí dân sự bồi thường, được khấu trừ vào 200.000 đồng tiền t m ứng án phí dân sự phúc thẩm đã nộp theo biên lai thu tiền t m ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0050782 ngày 23 tháng 11 năm 2020 của Chi c c Thi hành án dân sự thành phố T, tỉnh Bình Dương. Bị đơn dân sự còn phải tiếp t c nộp 38.064.300 đồng (ba mươi tám triệu không trăm sáu mươi bốn nghìn ba trăm đồng) án phí dân sự bồi thường và 100.000 đồng (một trăm nghìn đồng) án phí dân sự phúc thẩm.

3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời h n kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ