vanban.org

Bản án 44/2021/DSST — Tranh chấp hợp đồng tín dụng

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng Thương mại Cổ phần PĐ.

Buộc anh Trần Tuấn K phải trả cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần PĐ số tiền vốn, lãi là 10.473.097 đồng (Mười triệu bốn trăm bảy mươi ba ngàn không trăm chín mươi bảy đồng). Trong đó: Nợ gốc là 10.360.000 đồng (Mười triệu ba trăm sáu mươi ngàn đồng) và lãi suất là 113.097 đồng (Một trăm mười ba ngàn k… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án dân sự — "Tranh chấp hợp đồng tín dụng (Ngân hàng TMCP PĐ - Trần Tuấn K)"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng Thương mại Cổ phần PĐ.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ VĨNH LONG
TỈNH VĨNH LONG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 44/2021/DS-ST.
Ngày: 14- 4 -2021
V/v tranh chấp “Hợp đồng tín dụng"

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VĨNH LONG, TỈNH VĨNH LONG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Diễm.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Võ Thị Mỹ Ngọc.

2. Bà Huỳnh Thị Chi.

- Thư ký phiên tòa: Ông Ngô Minh Bảo - Thư ký viên Tòa án nhân dân thành phố Vĩnh Long.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vĩnh Long tham gia phiên tòa: Không tham gia.

Ngày 14 tháng 4 năm 2021 tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Vĩnh Long xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 146/2020/TLST-DS ngày 09 tháng 10 năm 2020 về tranh chấp “Hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 32/2021/QĐXXST-DS ngày 26 tháng 02 năm 2021 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại Cổ phần PĐ.

Trụ sở: Số 41-45, đường LD, phường BN, Quận M, Thành Phố HCM.

Người đại diện theo pháp luật: Ông Trịnh Văn T; chức vụ: Chủ tịch Hội đồng quản trị.

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Thi Thanh B; chức vụ: Giám đốc Ngân hàng TMCP PĐ - Chi nhánh VL (Giấy ủy quyền số 40/2019/UQ – CT.HĐQT ngày 04/11/2019).

Ủy quyền lại: Anh Dương Văn H; chức vụ: Chuyên viên thu hồi nợ Ngân hàng TMCP PĐ - Chi nhánh VL. (Giấy ủy quyền số 19/2020/UQ-OCB-CNVL ngày 08/6/2020) (vắng mặt).

Địa chỉ làm việc: Số 81-83, đường PTB, Phường T, thành phố VL, tỉnh VL.

- Bị đơn: Anh Trần Tuấn K, sinh năm 1983; nơi cư trú: Ấp PL A, xã PH, huyện LH, tỉnh VL (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện ngày 08/6/2020 và trong quá trình giải quyết vụ án anh Dương Văn H là người đại diện theo ủy quyền của Ngân hàng Thương mại Cổ phần PĐ (gọi tắt là Ngân hàng OB) trình bày như sau:

Ngày 15/9/2016 Ngân hàng OB có ký với anh Trần Tuấn K hợp đồng tín dụng số: 0626/2016/HĐTD-CN (gọi tắt là hợp đồng) và Khế ước nhận nợ số: 0626/2016/KUNN-CN (gọi tắt là khế ước) để vay 100.000.000 đồng.

Thời hạn vay là 60 tháng.

Lãi suất vay là 15%/ năm trong 6 tháng, từ tháng thứ 7 trở đi áp dụng lãi suất cho vay thả nổi định kỳ điều chỉnh 06 tháng/ lần theo công thức tính như sau: Lãi suất cho vay (điều chỉnh) = Lãi suất cơ sở + biên độ lãi suất. Lãi suất quá hạn: Bằng 150% lãi suất vay trong hạn.

Mục đích vay: Tiêu dùng.

Phương thức vay: Cho vay trả góp, trả gốc và lãi vào ngày 16 hàng tháng theo dư nợ giảm dần.

Bảo đảm tiền vay: Không có tài sản bảo đảm.

Trong quá trình thực hiện hợp đồng thì anh K đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán cho Ngân hàng OB, ngân hàng OB đã nhiều lần nhắc nhở anh K nhưng anh K không thực hiện.

Tính đến ngày 14/4/2021 anh K còn nợ ngân hàng OB 10.360.000 đồng tiền gốc và 113.097 đồng tiền lãi.

Bị đơn anh Trần Tuấn K đã được Tòa án triệu tập hợp lệ để tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng vẫn vắng mặt không có lý do và không có ý kiến gì đối với yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng OB.

Tại phiên tòa:

Đại diện nguyên đơn có đơn xin vắng mặt giữ nguyên yêu cầu khởi kiện về số nợ gốc là 10.360.000 đồng và lãi tính đến ngày 14/4/2021 là 113.097 đồng và yêu cầu tính lãi phát sinh theo thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán hết nợ.

Bị đơn được Tòa án triệu tập hợp lệ xét xử đến lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa:

Về thủ tục tố tụng: Vào ngày 13/4/2021 nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ 2 nhưng vắng mặt không có lý do. Do đó, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn là phù hợp theo quy định tại điểm a, b khoản 2 Điều 227; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Ngân hàng OB khởi kiện yêu cầu anh Trần Tuấn K trả nợ gốc lãi theo hợp đồng dụng tín dụng. Do đó đây là vụ án tranh chấp về “Hợp đồng tín dụng” theo quy định tại khoản 3 Điều 26 Bộ luật Tố tụng Dân sự và Điều 463 Bộ luật Dân sự. Vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Vĩnh Long theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và Điều 40 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung vụ án: Xét yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng OB yêu cầu anh K phải có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng số tiền gốc, lãi tổng cộng là 10.473.097 đồng tính đến ngày 14/4/2021 (trong đó gốc: 10.360.000 đồng, lãi trong hạn 113.097 đồng) và yêu cầu tính lãi phát sinh theo thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán xong nợ.

Đối với tiền nợ gốc: Hội đồng xét xử nhận thấy ngày 15/9/2016 anh Trần Tuấn K có ký hợp đồng tín dụng- khách hàng cá nhân số 0626/2016 HĐTD-CN và Khế ước nhận nợ số: 0626/2016/KUNN-CN với Ngân hàng OB, để vay số tiền 100.000.000 đồng. Trong quá trình thực hiện hợp đồng anh K đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán đối với Ngân hàng OB trên số tiền gốc là 10.360.000 đồng là đã vi phạm Điều 3, Điều 9 của hợp đồng. Do đó Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu này của Ngân hàng OB theo quy định tại Điều 463 và khoản 1 Điều 466 Bộ luật Dân sự.

Đối với khoản tiền lãi: Đến ngày 14/4/2021 Ngân hàng OB xác định bị đơn còn nợ lãi 113.097 đồng. Hội đồng xét xử nhận thấy giữa nguyên đơn và bị đơn đã tự nguyện thỏa thuận lãi suất và Ngân hàng OB yêu cầu tiếp tục tính lãi phát sinh theo hợp đồng cho đến khi bị đơn trả hết nợ là có căn cứ đúng pháp luật phù hợp với quy định Điều 466 Bộ luật Dân sự; Điều 91 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010 nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về án phí: Buộc bị đơn anh Trần Tuấn K phải chịu 524.000 đồng (Năm trăm hai mươi bốn ngàn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm b khoản 1 Điều 39; điểm a, b khoản 2 Điều 227; Điều 228; Điều 147 và Điều 235 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Căn cứ vào Điều 463 và Điều 466 Bộ luật Dân sự.

Căn cứ vào Điều 91 và Điều 95 Luật các Tổ chức tín dụng năm 2010 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Căn cứ khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng Thương mại Cổ phần PĐ.

Buộc anh Trần Tuấn K phải trả cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần PĐ số tiền vốn, lãi là 10.473.097 đồng (Mười triệu bốn trăm bảy mươi ba ngàn không trăm chín mươi bảy đồng). Trong đó: Nợ gốc là 10.360.000 đồng (Mười triệu ba trăm sáu mươi ngàn đồng) và lãi suất là 113.097 đồng (Một trăm mười ba ngàn không trăm chín mươi bảy đồng).

Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm bị đơn còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.

2. Về án phí:

Buộc anh Trần Tuấn K phải chịu 524.000 đồng (Năm trăm hai mươi bốn ngàn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm.

Hoàn trả lại số tiền tạm ứng án phí 780.000 đồng (Bảy trăm tám mươi ngàn đồng) cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần PĐ theo biên lai thu số N0 0005541 nộp ngày 15/7/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Vĩnh Long.

3. Về nghĩa vụ thi hành án: Trường hợp Bản án, Quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

4. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.

Cỡ chữ