vanban.org

Bản án 44/2021/DS-ST — Tranh chấp quyền sử dụng đất

TAND TX. Dĩ An, tỉnh Bình Dương Tuyên án 28/10/2021 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Ông Cao Văn X, bà Phạm Thị A, ông Cao Minh B, anh Cao B M và anh Cao Minh Kh phải tháo dỡ, di dời công trình xây dựng (một phần tƣờng xây (06 phòng trọ), bức tƣờng gạch xây tô, một phần nền bê tông xi măng) và giao trả cho hộ bà Trần Thị Th diện tích đất 34m2 - Là phần đất có ký …

Kiến nghị Ủy ban nhân dân thành phố Dĩ An, Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai thành phố Dĩ An điều chỉnh các giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp cho các đƣơng sự để xác định ranh giới quyền sử dụng đất theo quyết định của bản án. Ghi nhận sự tự nguyện của bà Trần Thị Th về việc hỗ trợ chi phí … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp quyền sử dụng đất — án dân sự — "Trân Thị Th và Cao Minh Ph tranh chấp quyền sử dụng đất"
  • Tòa quyết gì? Ông Cao Văn X, bà Phạm Thị A, ông Cao Minh B, anh Cao B M và anh Cao Minh Kh phải tháo dỡ, di dời công trình xây dựng (một phần tƣờng xây (06 phòng trọ), bức tƣờng gạch xây tô, một phần nền bê tông xi măng) và giao trả cho hộ bà Trần Thị Th diện tích đất 34m2 - Là phần đất có ký …
  • Căn cứ chính? Điều 144 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 175 Bộ luật Dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ DĨ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH B DƢƠNG
Bản án số: 44/2021/DS-ST
Ngày: 28/10/2021
V/v tranh chấp quyền sử dụng
đất

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH B DƯƠNG

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Chu Thị Vân.

Các Hội thẩm nhân dân:

1/ Ông Tô Văn Nhung - Giáo viên hƣu trí.

2/ Bà Bùi Thị Thúy Lan - Cán bộ hƣu trí.

Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Ông Phạm Anh Ly, Thƣ ký Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh B Dƣơng.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh B Dương tham gia phiên tòa: Bà Bùi Thị Xuân Tình, Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 10 năm 2021 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh B Dƣơng xét xử sơ thẩm vụ án dân sự thụ lý số 40/2020/TLST-DS ngày 16 tháng 01 năm 2020, về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất” theo Quyết định đƣa vụ án ra xét xử số 39/2021/QĐST-DS ngày 06 tháng 5 năm 2021; Quyết định hoãn phiên tòa số 28/2021/QĐST – DS ngày 07 tháng 6 năm 2021; Quyết định hoãn phiên tòa số 42/2021/QĐST – DS ngày 06 tháng 7 năm 2021 và Thbáo mở lại phiên tòa số 19/TB-TA ngày 12 tháng 10 năm 2021, giữa các đƣơng sự:

- Nguyên đơn: Bà Trần Thị Th, sinh năm 1934; địa chỉ: Số S, tổ 11, Khu C, khu phố T, phƣờng T, thành phố D, tỉnh B Dƣơng.

Người đại diện hợp pháp: Ông Vƣơng Xuân K, sinh năm 1977; địa chỉ: Số 455, khu phố 6, phƣờng L, thành phố B, tỉnh Đồng Nai; là ngƣời đại diện theo ủy quyền. (Văn bản ủy quyền ngày 05/8/2019). Có mặt.

- Bị đơn: Ông Cao Minh Ph, sinh năm 1958 (chết ngày 31/01/2020).

Người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của ông Cao Minh Ph:

1/ Ông Cao Văn X, sinh năm 1932; địa chỉ: Số 28/10 khu phố T , phƣờng T, thành phố D, tỉnh B Dƣơng. Có yêu cầu giải quyết vắng mặt.

2/ Bà Phạm Thị A, sinh năm 1963; địa chỉ: Số 1/11, tổ 11, Khu C, khu phố T, phƣờng T, thành phố D, tỉnh B Dƣơng. Có mặt.

3/ Ông Cao Minh B, sinh năm 1987; địa chỉ: Số 1/11, tổ 11, Khu C, khu phố T, phƣờng T, thành phố D, tỉnh B Dƣơng. Có mặt.

4/ Anh Cao Bình M1, sinh năm 1995; địa chỉ: Số 1/11, tổ 11, Khu C, khu phố T, phƣờng T, thành phố D, tỉnh B Dƣơng. Có yêu cầu giải quyết vắng mặt.

5/ Anh Cao Minh Kh, sinh năm 2003; địa chỉ: Số 1/11, tổ 11, Khu C, khu phố T, phƣờng T, thành phố D, tỉnh B Dƣơng. Có yêu cầu giải quyết vắng mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1/ Ông Nguyễn Công M2, sinh năm 1965; địa chỉ: Số S, tổ 11, Khu C, khu phố T, phƣờng T, thành phố D, tỉnh B Dƣơng. Có yêu cầu giải quyết vắng mặt đối với yêu cầu phản tố.

2/ Bà Nguyễn Kim L, sinh năm 1971; địa chỉ: Số 48A/7 khu phố Long Đ, phƣờng Long B , thành phố B, tỉnh Đồng Nai. Có yêu cầu giải quyết vắng mặt đối với yêu cầu phản tố.

Người đại diện hợp pháp của ông Nguyễn Công M2 và bà Nguyễn Kim L trong quan hệ tranh chấp quyền sử dụng đất: Ông Vƣơng Xuân K, sinh năm 1977; địa chỉ: Số 455, khu ph, phƣờng Long B, thành phố B, tỉnh Đồng Nai; là ngƣời đại diện theo quỷ quyền. (Văn bản ủy quyền ngày 09/6/2020). Có mặt.

3/ Bà Phạm Thị A, sinh năm 1963; địa chỉ: tổ 11, Khu C, khu phố T, phƣờng T, thành phố D, tỉnh B Dƣơng.. Có mặt.

4/ Bà Trần Thị Mộng T; sinh năm 1992; địa chỉ: tổ 11, Khu C, khu phố T, phƣờng T, thành phố D, tỉnh B Dƣơng. Có yêu cầu giải quyết vắng mặt.

Người làm chứng:

1/ Ông Trần Văn S, sinh năm 1966; địa chỉ: tổ 11, Khu C, khu phố T, phƣờng T, thành phố D, tỉnh B Dƣơng. Có yêu cầu giải quyết vắng mặt.

2/ Bà Nguyễn Ngọc T, sinh1966; địa chỉ: tổ 11, Khu C, khu phố T, phƣờng T, thành phố D, tỉnh B Dƣơng. Có yêu cầu giải quyết vắng mặt.

3/ Ông Nguyễn Văn U, sinh năm 1973; địa chỉ: tổ 11, Khu C, khu phố T, phƣờng T, thành phố D, tỉnh B Dƣơng. Có yêu cầu giải quyết vắng mặt.

4/ Bà Nguyễn Ngọc L, địa chỉ: tổ 11, Khu C, khu phố T, phƣờng T, thành phố D, tỉnh B Dƣơng. Có yêu cầu giải quyết vắng mặt.

5/ Bà Nguyễn Thị Tứ X2, sinh năm 1960; địa chỉ: tổ 11, Khu C, khu phố T, phƣờng T, thành phố D, tỉnh B Dƣơng.Có yêu cầu giải quyết vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 03/01/2020, các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa người đại diện theo ủy quyền của bà Trần Thị Th là ông Vương Xuân K trình bày:

Nguồn gốc phần đất của bà Trần Thị Th thuộc thửa đất số 72 tờ bản đồ E3, phần đất này giáp ranh với thửa số 219, tờ bản đồ số E3 của ông Cao Minh Ph, đã đƣợc nhà nƣớc cấp đất theo diện gia đình chính sách từ năm 1985 cho hộ gia đình bà Trần Thị Th. Thời điểm cấp đất, hộ gia đình bà Th gồm bà Trần Thị Th, ông Nguyễn Công M2 và bà Nguyễn Kim L, chồng bà Th mất đã lâu, không có giấy chứng tử, không ai nhớ rõ ông mất năm nào. Năm 1983, bà Thcùng các con về sinh sống tại thửa đất này thì đã có gia đình ông Ph. Năm 1994 ranh giới là tƣờng rào gạch xây tô. Gia đình bà Thsử dụng ổn định đến năm 2000 thì đƣợc UBND huyện (nay là thành phố) Dĩ An, tỉnh B Dƣơng cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 692/QSDĐ/TB ngày 17/5/2000, tờ bản đồ E3, diện tích 1.976 m2 tại 2/11, tổ 11, khu C, khu phố Tân Phú 1, phƣờng Tân B, thành phố Dĩ An, tỉnh B Dƣơng. Đến khoảng năm 2014 - 2015 bà Thbiết việc đất của mình bị thiếu hụt. Sau khi biết sự việc trên bà Thcó gặp ông Ph để thỏa thuận nhƣng không đƣợc, sau đó bà Th có làm đơn khiếu nại gửi UBND phƣờng Tân B để hòa giải nhƣng không thành. Quá trình tố tụng, nguyên đơn thống nhất với kết quả đo đạc theo Mảnh trích lục địa chính do Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố Dĩ An phát hành ngày 11/8/2020.

Tại phiên tòa nguyên đơn xác định phần đất tranh chấp có diện tích 34m2 – là phần đất có ký hiệu D trong mảnh trích lục địa chính do Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố Dĩ An phát hành ngày 11/8/2020, tọa lạc tại tổ 11, khu C, khu phố Tân Phú 1, phƣờng Tân B, thành phố Dĩ An, tỉnh B Dƣơng. Đồng thời đề nghị Tòa án buộc bị đơn, nay là những ngƣời kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của bị đơn phải tháo dỡ toàn bộ công trình xây dựng và công nhận phần đất này thuộc quyền quản lý, sử dụng của nguyên đơn.

Trƣờng hợp những ngƣời kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của bị đơn đồng ý tháo dỡ, di dời công trình xây dựng và giao lại phần đất trên cho nguyên đơn thì nguyên đơn đồng ý hỗ trợ chi phí tháo dỡ, di dời công trình xây dựng với số tiền 100.000.000 (một trăm triệu) đồng.

Nguyên đơn không có ý kiến gì đối với việc rút toàn bộ yêu cầu phản tố của những ngƣời kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của bị đơn tại phiên tòa.

- Quá trình giải quyết vụ án trong các bản tự khai và tại phiên tòa những người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của bị đơn ông Cao Minh Ph là bà Phạm Thị A, ông Cao Văn X, ông Cao Minh B, anh Cao B M1 và anh Cao Minh Kh trình bày:

Ông Cao Minh Ph là ngƣời đứng tên trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 175QSDĐ/CQTB do UBND huyện Thuận An (nay là UBND thành phố Dĩ An), tỉnh B Dƣơng cấp ngày 21/01/1999 đối với thửa đất số 219, tờ bản đồ E3, diện tích 1.616 m2 tại 1/11, tổ 11, khu C, khu phố Tân Phú 1, phƣờng Tân B, thành phố Dĩ An, tỉnh B Dƣơng. Thửa đất này có nguồn gốc do chính quyền địa Ph cấp sau khi ông Ph đi bộ đội ở biên giới Tây Nam và chiến trƣờng Campuchia phục viên trở về địa Ph năm 1980. Sau khi nhận đất, ông Ph có trồng hoa màu và một số cây lâu năm trên đất là bạch đàn và điều. Năm 1983, hộ gia đình bà Thvề sinh sống giáp ranh với phần đất của gia đình ông. Đến năm 1985, ông Ph trồng hàng cây Liễu để làm ranh đất giữa hộ bà Thvới gia đình ông. Năm 1993, ông Ph làm đơn xin cất nhà và đƣợc chính quyền địa Ph đồng ý. Đến năm 1994, ông Ph xây tƣờng rào gạch xây tô làm ranh giới thay thế cho hàng cây liễu và sử dụng ổn định cho đến khi phát sinh tranh chấp. Đến năm 1998, ông Ph làm thủ tục xin đƣợc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và có đơn xin xác nhận nguồn gốc đất, đƣợc UBND xã Tân B, huyện Dĩ An (nay là UBND phƣờng Tân B, thành phố Dĩ An), tỉnh B Dƣơng xác nhận. Trong quá trình sử dụng đất, ông Ph sử dụng liên tục, hợp pháp, không sử dụng ngoài diện tích đất mà mình đƣợc cấp từ năm 1980 cho đến nay và cũng không có tranh chấp gì với những hộ có liên ranh liền kề. Quá trình giải quyết vụ án những ngƣời kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của bị đơn không đồng ý yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Tuy nhiên, tại phiên tòa những ngƣời kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của bị đơn đồng ý Ph án thỏa thuận do nguyên đơn đƣa ra, cụ thể: Đồng ý tháo dỡ, di dời công trình xây dựng và giao lại toàn bộ diện tích đất tranh chấp 34m2 – Là phần đất có ký hiệu D trong mảnh trích lục địa chính do Chi nhA Văn phòng đăng ký đất đai thành phố Dĩ An phát hành ngày 11/8/2020, tọa lạc tại tổ 11, khu C, khu phố Tân Phú 1, phƣờng Tân B, thành phố Dĩ An, tỉnh B Dƣơng cho hộ bà Trần Thị Thquản lý, sử dụng. Đồng thời đề nghị bà Trần Thị Th hỗ trợ chi phí tháo dỡ, di dời công trình xây dựng với số tiền là 100.000.000 (một trăm triệu) đồng.

Tại phiên tòa những ngƣời kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của bị đơn có đơn xin rút yêu cầu phản tố.

Ông Cao Văn X không có đơn yêu cầu đƣợc miễn nộp tiền án phí theo quy định.

- Tại bản tự khai ngày 31/10/2017 và lời khai trong quá trình tố tụng, người đại diện hợp pháp của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Kim L trong quan hệ tranh chấp quyền sử dụng đất là ông Vương Xuân K trình bày: Thống nhất với lời trình bày của nguyên đơn và các Ph án đã thỏa thuận đƣợc giữa nguyên đơn và những ngƣời kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của bị đơn tại phiên tòa.

- Tại bản tự khai và lời khai trong quá trình tố tụng, người đại diện hợp pháp của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Công M2 trong quan hệ tranh chấp quyền sử dụng đất là ông Vương Xuân K trình bày: Thống nhất với lời trình bày của nguyên đơn và các Ph án đã thỏa thuận đƣợc giữa nguyên đơn và những ngƣời kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của bị đơn tại phiên tòa.

- Quá trình tố tụng và tại phiên tòa người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Phạm Thị A trình bày: Thống nhất với lời trình bày của những ngƣời kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của bị đơn và các Ph án đã thỏa thuận đƣợc giữa nguyên đơn và những ngƣời kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của bị đơn tại phiên tòa.

- Tại bản tự khai người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Trần Thị Mộng Tuyền trình bày: Thống nhất lời trình bày của ông Cao Minh B và bà Phạm Thị A trong quá trình giải quyết vụ án.

- Người làm chứng ông Trần Văn S, bà Nguyễn Ngọc T, ông Nguyễn Văn Ú, bà Nguyễn Ngọc L và bà Nguyễn Thị Tứ X2 trình bày: Bà Th và ông Ph quản lý, sử dụng đất liền kề nhau. Sau khi đƣợc nhà nƣớc giao đất ông Ph trồng hàng liễu và tầm vông làm ranh giới. Đến năm 1993 thì ông Ph xây dựng hàng rào bằng tƣờng gạch xây tô tồn tại cho đến nay; thời điểm ông Ph xây tƣờng rào thì bà Thvẫn còn sống tại đây và không có ý kiến gì về việc xây dựng này.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An: Quá trình giải quyết vụ án từ khi thụ lý cho đến tại phiên tòa, Tòa án và đƣơng sự chấp hành đúng pháp luật về tố tụng dân sự. Ngƣời kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của bị đơn; ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và ngƣời làm chứng vắng mặt tại phiên tòa nhƣng đều có yêu cầu giải quyết vắng mặt. Vì vậy căn cứ các Điều 227, 228, 229 của Bộ luật Tố tụng Dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt họ là đúng quy định. Về nội dung: Tại phiên tòa nguyên đơn và những ngƣời kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của bị đơn đã tự thỏa thuận đƣợc với nhau về việc giải quyết toàn bộ nội dung vụ án, sự thỏa thuận của đƣơng sự là tự nguyện và không trái quy định của pháp luật nên đề nghị Hội đồng xét xử ghi nhận.

Tại phiên tòa những ngƣời kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của bị đơn có đơn xin rút yêu cầu phản tố. Xét thấy, việc rút yêu cầu phản tố là tự nguyện, không bị ai ép buộc nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về tố tụng:

Ngày 16/01/2020, Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh B Dƣơng đã thụ lý vụ án dân sự “Tranh chấp quyền sử dụng đất” giữa nguyên đơn bà Trần Thị Th và bị đơn ông Cao Minh Ph. Ngày 31/01/2020, ông Cao Minh Ph chết (Ủy ban nhân dân phƣờng Tân B, thành phố Dĩ An, tỉnh B Dƣơng cấp giấy khai tử số 08 ngày 05/02/2020). Căn cứ Điều 74 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án xác định những ngƣời kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của ông Cao Minh Ph bao gồm: Bà Phạm Thị A, ông Cao Văn X, ông Cao Minh B, anh Cao B M1 và anh Cao Minh Kh để tiếp tục giải quyết vụ án.

Ngƣời kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của bị đơn là ông Cao Văn X, anh Cao B M1, anh Cao Minh Kh; những ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Trần Thị Mộng T, bà Nguyễn Kim L, ông Nguyễn Công M2; những ngƣời làm chứng ông Trần Văn S, bà Nguyễn Ngọc T, ông Nguyễn Văn Ú, bà Nguyễn Ngọc L và bà Nguyễn Thị Tứ X2 đều có yêu cầu giải quyết vắng mặt nên căn cứ các Điều 227, 228, 229 Bộ luật Tố tụng Dân sự Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt ngƣời kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của bị đơn; ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và ngƣời làm chứng đã có yêu cầu giải quyết vắng mặt.

Về nội dung:

Tại phiên tòa nguyên đơn và ngƣời kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của bị đơn thống nhất xác định phần đất tranh chấp có diện tích theo đo đạc thực tế 34m2 - Là phần đất có ký hiệu D trong mảnh trích lục địa chính do Chi nhA Văn phòng đăng ký đất đai thành phố Dĩ An phát hành ngày 11/8/2020, tọa lạc tại tổ 11, khu C, khu phố Tân Phú 1, phƣờng Tân B, thành phố Dĩ An, tỉnh B Dƣơng; trên phần đất tranh chấp gắn liền với các tài sản của bị đơn là một phần các công trình xây dựng, cụ thể nhƣ sau: Bức tƣờng gạch xây tô có diện tích 9,08m2; một phần tƣờng xây của 06 căn phòng trọ có kết cấu: Tƣờng xây tô, mái tôn, nền gạch tàu; một phần nền bê tông xi măng diện tích 2m2.

Tại phiên tòa nguyên đơn và những ngƣời kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của bị đơn đã thống nhất đƣa ra Ph án thỏa thuận đƣợc toàn bộ nội dung vụ án, cụ thể nhƣ sau: Những ngƣời kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của bị đơn tiến hành tháo dỡ, di dời công trình xây dựng để giao lại toàn bộ diện tích đất tranh chấp theo đo đạc thực tế 34m2 - Là phần đất có ký hiệu D trong mảnh trích lục địa chính do Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố Dĩ An phát hành ngày 11/8/2020, tọa lạc tại tổ 11, khu C, khu phố Tân Phú 1, phƣờng Tân B, thành phố Dĩ An, tỉnh B Dƣơng cho hộ bà Trần Thị Th. Bà Trần Thị Thcó trách nhiệm hỗ trợ chi phí tháo dỡ, di dời công trình xây dựng cho những ngƣời kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của bị đơn với số tiền 100.000.000 (một trăm triệu) đồng.

Xét thấy, sự thỏa thuận của các đƣơng sự là tự nguyện, không vi phạm điều cấm của luật và không trái đạo đức xã hội nên Hội đồng xét xử ghi nhận.

Quá trình giải quyết vụ án ông Cao Văn X xác định ông không đóng góp gì trên mảnh đất tranh chấp, ông không có ý kiến gì trong vụ việc tranh chấp giữa các bên. Anh Cao B M1, anh Cao Minh Kh và bà Trần Thị Mộng T thống nhất ý kiến với bà Phạm Thị A và ông Cao Minh B trong quá trình giải quyết vụ án. Những ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có yêu cầu độc lập trong vụ án. Do đó, Hội đồng xét xử ghi nhận sự thỏa thuận của nguyên đơn và những ngƣời kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của bị đơn tại phiên tòa không ảnh hƣởng đến quyền lợi ích hợp pháp của những ngƣời có yêu cầu giải quyết vắng mặt.

Tại phiên tòa những ngƣời kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của bị đơn có đơn xin rút yêu cầu phản tố, việc rút đơn là hoàn toàn tự nguyện, không bị ai ép buộc nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về chi phí xem xét thẩm định, tại chỗ và trích lục hồ sơ: Nguyên đơn bà Trần Thị Thtự nguyện chịu số tiền 3.534.000 (ba triệu năm trăm ba mƣơi bốn nghìn) đồng đƣợc khấu trừ hết vào chi phí tạm ứng đã nộp.

Về án phí dân sự sơ thẩm:

Bà Trần Thị Thlà ngƣời cao tuổi, có đơn xin miễn nộp tiền án phí nên đƣợc miễn nộp tiền án phí theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12, Điều 14 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban thƣờng vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Ông Cao Văn Xanh là ngƣời cao tuổi nhƣng không có yêu cầu miễn nộp tiền án phí nên không đƣợc miễn nộp tiền án phí theo quy định.

Những ngƣời kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của bị đơn phải chịu theo quy định của Điều 147 Bộ luật Tố tụng Dân sự và khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban thƣờng vụ Quốc Hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các Điều 26, 35, 39, 144, 147, 227, 228, 229, 266, 271 và 273 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015;

Căn cứ Điều 175 và khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015;

Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12, Điều 14 và khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban thƣờng vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Ông Cao Văn X, bà Phạm Thị A, ông Cao Minh B, anh Cao B M và anh Cao Minh Kh phải tháo dỡ, di dời công trình xây dựng (một phần tƣờng xây (06 phòng trọ), bức tƣờng gạch xây tô, một phần nền bê tông xi măng) và giao trả cho hộ bà Trần Thị Th diện tích đất 34m2 - Là phần đất có ký hiệu D trong mảnh trích lục địa chính do Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố Dĩ An phát hành ngày 11/8/2020, tọa lạc tại tổ 11, khu C, khu phố Tân Phú 1, phƣờng Tân B, thành phố Dĩ An, tỉnh B Dƣơng. (Có bản vẽ kèm theo).

Kiến nghị Ủy ban nhân dân thành phố Dĩ An, Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai thành phố Dĩ An điều chỉnh các giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp cho các đƣơng sự để xác định ranh giới quyền sử dụng đất theo quyết định của bản án.

2. Ghi nhận sự tự nguyện của bà Trần Thị Th về việc hỗ trợ chi phí tháo dỡ, di dời công trình xây dựng cho những ngƣời kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của bị đơn là ông Cao Văn X, bà Phạm Thị A, ông Cao Minh B, anh Cao B M1 và anh Cao Minh Kh số tiền 100.000.000 (một trăm triệu) đồng.

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của ngƣời đƣợc thi hành án cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự.

3. Đình chỉ yêu cầu phản tố của những ngƣời kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của bị đơn là ông Cao Văn X, bà Phạm Thị A, ông Cao Minh B, anh Cao B M1 và anh Cao Minh Kh đối với nguyên đơn.

4. Về chi phí xem xét thẩm định tại chỗ, đo đạc và trích lục hồ sơ: Bà Trần Thị Th tự nguyện chịu số tiền 3.534.000 (ba triệu năm trăm ba mƣơi bốn nghìn) đồng đƣợc khấu trừ hết vào chi phí tạm ứng đã nộp.

5. Án phí dân sự sơ thẩm:

- Ông Cao Văn X, bà Phạm Thị A, ông Cao Minh B, anh Cao B M1 và anh Cao Minh Kh phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng đƣợc khấu trừ hết vào tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0048868 ngày 02 tháng 11 năm 2020 của Chi cục thi hành án Dân sự thành phố Dĩ An.

- Bà Trần Thị Th là ngƣời cao tuổi, đồng thời có đơn xin miễn nộp án phí nên đƣợc miễn nộp tiền án phí.

6. Đƣơng sự có mặt đƣợc quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đƣơng sự vắng mặt đƣợc quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận đƣợc bản án hoặc từ ngày bản án đƣợc niêm yết theo quy định của pháp luật.

7. Trƣờng hợp bản án, quyết định đƣợc thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì ngƣời đƣợc thi hành án dân sự, ngƣời phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cƣỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án đƣợc thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ