- Tranh chấp gì? án hình sự — "Tội tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Phan Trọng N phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 249 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN Ô THÀNH PHỐ CẦN THƠ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 44/2020/HSST Ngày: 24-7-2020 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN Ô, THÀNH PHỐ CẦN THƠ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Thúy Hằng
Các Hội thẩm nhân dân:
1/ Ông Nguyễn Vĩnh Thạnh
2/ Bà Lê Thị Tân An
- Thư ký phiên tòa: Bà Hồ Thị Thu Hiền – Thư ký Tòa án nhân dân quận Ô, thành phố Cần Thơ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Ô tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Bảo Trân - Kiểm sát viên.
Trong ngày 24 tháng 7 năm 2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Ô, thành phố Cần Thơ xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 47/2020/TLST-HS ngày 30 tháng 6 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 48/2020/QĐXXST-HS ngày 09 tháng 7 năm 2020 đối với bị cáo:
Phan Trọng N, sinh năm 1998.
Nơi sinh: Cần Thơ.
Nơi đăng ký thường trú: Khu vực T, phường T, quận Ô, thành phố Cần Thơ.
Nghề nghiệp: không; Trình độ học vấn (văn hóa): 09/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: kinh; Giới tính: nam; Tôn giáo: không; Con ông Phan Công M, sinh năm: 1960 (sống) và bà Dương Thị C, sinh năm 1959 (sống); Bị cáo là con duy nhất trong gia đình.
Tiền sự: 01 lần. Vào ngày 14/10/2019 bị Chủ tịch Ủy ban nhân dân phường T áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. Chấp hành xong ngày 14/01/2020.
Tiền án: không.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp tạm giữ từ ngày 12/5/2020 đến ngày 21/5/2020 và đang bị áp dụng biện pháp tạm giam từ ngày 21/5/2020 đến nay tại Nhà tạm giữ Công an quận Ô.
Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1) Ông Phan Công M, sinh năm 1960. (Có mặt)
2) Bà Dương Thị C, sinh năm 1959. (Có mặt)
Cùng địa chỉ: Khu vực T, phường T, quận Ô, thành phố Cần Thơ.
- Người chứng kiến:
Anh Dương Sĩ D, sinh năm 1985. (Vắng mặt)
Địa chỉ: Khu vực T, phường T, quận Ô, thành phố Cần Thơ.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Qua công tác nắm tình hình, phát hiện Phan Trọng N có biểu hiện nghi vấn liên quan đến ma túy nên vào khoảng 15 giờ 00 phút ngày 12/5/2020, Công an quận Ô kết hợp với Công an phường T tiến hành khám xét người và nơi ở của N tại nhà số 396/43 thuộc Khu vực T, phường T, quận Ô phát hiện 01 gói nilon hàn kín và 01 gói nilon nẹp miệng bên trong có 02 gói chứa các hạt tinh thể dạng rắn không màu nghi là ma túy nên Công an tiến hành thu giữ niêm phong và đưa N về làm việc.
Quá trình điều tra, N khai nhận 02 gói chứa các hạt tinh thể dạng rắn mà Công an thu giữ là ma túy đá N mua vào ngày 10/5/2020 của người tên H (không rõ họ tên và địa chỉ) ở quán Lộc Vừng gần cầu Cần Thơ Bé thuộc quận T với số tiền 1.200.000 đồng (Một triệu hai trăm ngàn đồng), đem về cất giấu trong phòng ngủ ở nhà để sử dụng thì bị lực lượng Công an kiểm tra phát hiện.
Theo kết luận giám định số 192/KL-PC09 (Hóa) ngày 19/5/2020 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an thành phố Cần Thơ kết luận: Tinh thể không màu trong 02 gói nilon gửi giám định là ma túy, khối lượng 2,4569 gam, loại Methamphetamine.
Vật chứng thu giữ gồm:
- 01 gói ma túy còn lại sau giám định có khối lượng 2,4172 gam, loại Methamphetamine, được niêm phong số 192/KL-PC09 (Hóa) ngày 19/5/2020 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an thành phố Cần Thơ, có chữ ký cán bộ niêm phong Nguyễn Đoàn Trường An và có đóng dấu tròn màu đỏ của Phòng kỹ thuật hình sự Công an thành phố Cần Thơ;
- 01 điện thoại di động hiệu MI có số IMEI 1: 863542041531572, số IMEI 2: 863542041531580 màu đen cùng sim Mobiphone số seri: 8401190892382803WD có số điện thoại 0907496207 đã qua sử dụng;
- 01 điện thoại di động hiệu Nokia, số IMEI 1: 357327084035183, số IMEI 2: 357327084035191 cùng sim Mobiphone số seri: 8401181150164171WD không rõ số điện thoại đã qua sử dụng;
- 01 điện thoại di động hiệu Coolpad, số IMEI 1: 865733032093643, số IMEI 2: 865733032068181 màu vàng gold đã qua sử dụng;
- 01 túi nhựa hình chữ nhật màu vàng đã qua sử dụng;
- 01 chai nhựa có nắp màu đỏ, có gắn một ống thủy tinh có một đầu tròn và có gắn ống hút nhựa màu cam đã qua sử dụng;
- 02 bình gas mini màu đen ghi chữ BLUESKY đã qua sử dụng;
- 01 đoạn ống thủy tinh có hình đầu tròn đã qua sử dụng;
- 02 hột quẹt gas màu đỏ đã qua sử dụng;
- 02 cây kéo bằng kim loại đã qua sử dụng;
- 01 cây khè lửa màu xanh có một đầu bằng kim loại đã qua sử dụng;
- 01 cái ví da màu nâu đã qua sử dụng;
- 02 đoạn ống hút nhựa trong đó có một ống màu cam và một ống màu trắng đã qua sử dụng;
- 02 bình gas có ghi chữ IKURA đã qua sử dụng;
- 10 vỏ bọc nilon được hàn kín có một đầu, một đầu hở đã qua sử dụng;
- 01 bình nhựa màu xanh có nắp màu đỏ, gắn ống hút nhựa màu cam;
- 01 cân điện tử màu đen đã qua sử dụng;
- 01 cuộn băng keo đen đã qua sử dụng;
- 10 vỏ bọc nilon có kích thước 25,5cm x 3,5cm;
- Tiền Việt Nam 730.000 đồng (Bảy trăm ba mươi ngàn đồng).
Đối với 10 vỏ bọc nilon có kích thước 25,5cm x 3,5cm và 01 cân điện tử màu đen đã qua sử dụng N khai nhận là của một người thanh niên tên M nhờ N giữ giúp nhưng N khai không rõ họ tên và địa chỉ nên Cơ quan điều tra không làm việc được.
Đối với người đàn ông tên H là người bán ma túy cho N, N khai không rõ họ tên và địa chỉ cụ thể nên Cơ quan điều tra không xác minh được, khi nào xác minh, làm việc được sẽ xử lý sau.
Tại Cáo trạng số 48/CT-VKSOM-HS ngày 24/6/2020 Viện Trưởng Viện kiểm sát nhân dân quận Ô, thành phố Cần Thơ đã truy tố ra trước Tòa án nhân dân quận Ô, thành phố Cần Thơ để xét xử Phan Trọng N về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa:
Kiểm sát viên thực hành quyền công tố, kiểm sát xét xử sơ thẩm trình bày lời luận tội: Giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo theo tội danh và điều luật đã nêu trong cáo trạng. Qua đó, có phân tích về tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, về nhân thân cũng như tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: Điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự; Xử phạt bị cáo mức án từ 03 (ba) năm đến 04 (bốn) năm tù. Đề nghị áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo số tiền từ 5.000.000 – 10.000.000 đồng.
Về xử lý vật chứng áp dụng: Điều 47, 48 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự đề nghị:
- Tịch thu tiêu hủy: 01 gói ma túy còn lại sau giám định có khối lượng 2,4172 gam, loại Methamphetamine, được niêm phong số 192/KL-PC09 (Hóa) ngày 19/5/2020 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an thành phố Cần Thơ, có chữ ký cán bộ niêm phong Nguyễn Đoàn Trường An và có đóng dấu tròn màu đỏ của Phòng kỹ thuật hình sự Công an thành phố Cần Thơ; 01 túi nhựa hình chữ nhật màu vàng đã qua sử dụng; 01 chai nhựa có nắp màu đỏ, có gắn một ống thủy tinh có một đầu tròn và có gắn ống hút nhựa màu cam đã qua sử dụng; 02 bình gas mini màu đen ghi chữ BLUESKY đã qua sử dụng; 01 đoạn ống thủy tinh có hình đầu tròn đã qua sử dụng; 02 hột quẹt gas màu đỏ đã qua sử dụng; 02 cây kéo bằng kim loại đã qua sử dụng; 01 cây khè lửa màu xanh có một đầu bằng kim loại đã qua sử dụng; 01 cái ví da màu nâu đã qua sử dụng; 02 đoạn ống hút nhựa trong đó có một ống màu cam và một ống màu trắng đã qua sử dụng; 02 bình gas có ghi chữ IKURA đã qua sử dụng; 10 vỏ bọc nilon được hàn kín một đầu, một đầu hở, đã qua sử dụng; 01 bình nhựa màu xanh có nắp màu đỏ, gắn ống hút nhựa màu cam; 01 cuộn băng keo đen đã qua sử dụng; 10 vỏ bọc nilon có kích thước 25,5cm x 3,5cm và 01 cân điện tử màu đen đã qua sử dụng, do bị cáo sử dụng vào việc phạm tội.
- Đối với tài sản thu giữ của bị cáo: 01 điện thoại di động hiệu MI có số IMEI 1: 863542041531572, số IMEI 2: 863542041531580 màu đen cùng sim Mobiphone số seri: 8401190892382803WD có số điện thoại 0907496207 đã qua sử dụng; 01 điện thoại di động hiệu Nokia, số IMEI 1: 357327084035183, số IMEI 2: 357327084035191 cùng sim Mobiphone số seri: 8401181150164171WD không rõ số điện thoại đã qua sử dụng; 01 điện thoại di động hiệu Coolpad, số IMEI 1: 865733032093643, số IMEI 2: 865733032068181 màu vàng gold đã qua sử dụng và Tiền Việt Nam 730.000 đồng (Bảy trăm ba mươi ngàn đồng), do không liên quan đến việc phạm tội nên đề nghị trả lại cho bị cáo.
Bị cáo thừa nhận hành toàn bộ hành vi phạm tội và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra – Công an quận Ô, điều tra viên trong quá trình điều tra vụ án; của Viện kiểm sát nhân dân Quận Ô, Kiểm sát viên trong giai đoạn điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng không có người nào khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng trong vụ án. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện hợp pháp.
Về căn cứ kết tội: Lời khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bị cáo tại phiên tòa; Các biên bản ghi lời khai, biên bản hỏi cung bị can tại cơ quan điều tra; Biên bản sự việc ngày 12/5/2020; Biên bản khám xét ngày 12/5/2020; Bản thống kê những đồ vật, tài liệu tạm giữ khi khám xét ngày 12/5/2020; Bản Kết luận giám định số 192/KL-PC09 ngày 19/5/2020 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an thành phố Cần Thơ; Biên bản niêm phong, mở niêm phong đồ vật, tài liệu bị tạm giữ; các biên bản ghi lời khai và các tài liệu, chứng cứ khác thu thập trong hồ sơ vụ án. Đủ cơ sở kết luận:
Bị cáo đã thực hiện hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy khối lượng là 2,4569 gam, loại Methamphetamine do bị cáo cất giấu trong phòng ngủ ở nhà để sử dụng, điều này cho thấy bị cáo phạm tội do lỗi cố ý. Hành vi này của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Do đó, việc truy tố, xét xử đối với bị cáo là hoàn toàn có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng quy định pháp luật.
Về tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội: Ma túy là hiểm họa lớn của toàn nhân loại, đã trực tiếp hủy hoại cuộc sống của hàng triệu con người và nó là mối đe dọa lớn đối với đời sống xã hội, đất nước. Vì vậy, Nhà nước đã có chế tài nghiêm khắc đối với loại tội phạm này. Bị cáo là người đã trưởng thành, có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, biết rõ tác hại, hậu quả của việc sử dụng trái phép chất ma túy và là nguồn gốc phát sinh những tội phạm khác. Đồng thời, bị cáo đã có một tiền sự về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy nhưng bị cáo không từ bỏ, chỉ vì muốn thỏa mãn cơn nghiện của bản thân nên đã bất chấp pháp luật, thực hiện hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy để sử dụng.
Hành vi của bị cáo đã xâm phạm đến việc quản lý độc quyền của Nhà nước về chất ma túy được pháp luật hình sự bảo vệ. Đồng thời, gây ảnh hưởng tình hình an ninh, trật tự an toàn xã hội tại địa phương. Do đó, để giáo dục răn đe bị cáo, góp phần đấu tranh phòng chống loại tội phạm ma túy, cần cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành người có ích cho gia đình và xã hội, sống đặt mình trong khuôn khổ pháp luật.
Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa thể hiện bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Vì vậy, Hội đồng xét xử có xem xét các tình tiết này để cân nhắc hình phạt đối với bị cáo như đề nghị của Kiểm sát viên là phù hợp.
Về hình phạt bổ sung: Căn cứ vào khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự, xét thấy cần áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo với số tiền là 5.000.000 đồng (Năm triệu đồng) sung vào công quỹ nhà nước.
Về vật chứng của vụ án: Theo đề nghị của kiểm sát viên tại phiên tòa nêu trên là có cở sở, phù hợp quy định pháp luật nên được chấp nhận.
Đối với người đàn ông tên H, bị cáo khai H là người bán ma túy cho bị cáo nhưng không rõ họ tên và địa chỉ cụ thể nên Cơ quan điều tra không xác minh được. Kiến nghị Cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận Ô tiếp tục xác minh làm rõ, khi có đủ cơ sở xử lý theo quy định pháp luật.
Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tuyên bố: Phan Trọng N phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Áp dụng: Điểm c khoản 1, khoản 5 Điều 249; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Xử phạt: Phan Trọng N 03 (ba) năm tù.
Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 12/5/2020.
Về hình phạt bổ sung: Bị cáo phải nộp số tiền 5.000.000 đồng (Năm triệu đồng) vào công quỹ nhà nước.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47, 48 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
- Tịch thu tiêu hủy: 01 gói ma túy còn lại sau giám định có khối lượng 2,4172 gam, loại Methamphetamine, được niêm phong số 192/KL-PC09 (Hóa) ngày 19/5/2020 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an thành phố Cần Thơ, có chữ ký cán bộ niêm phong Nguyễn Đoàn Trường An và có đóng dấu tròn màu đỏ của Phòng kỹ thuật hình sự Công an thành phố Cần Thơ; 01 túi nhựa hình chữ nhật màu vàng đã qua sử dụng; 01 chai nhựa có nắp màu đỏ, có gắn một ống thủy tinh có một đầu tròn và có gắn ông hút nhựa màu cam đã qua sử dụng; 02 bình gas mini màu đen ghi chữ BLUESKY đã qua sử dụng; 01 đoạn ống thủy tinh có hình đầu tròn đã qua sử dụng; 02 hột quẹt gas màu đỏ đã qua sử dụng; 02 cây kéo bằng kim loại đã qua sử dụng; 01 cây khè lửa màu xanh có một đầu bằng kim loại đã qua sử dụng; 01 cái ví da màu nâu đã qua sử dụng; 02 đoạn ống hút nhựa trong đó có một ống màu cam và một ống màu trắng đã qua sử dụng; 02 bình gas có ghi chữ IKURA đã qua sử dụng; 10 vỏ bọc nilon được hàn kín một đầu, một đầu hở, đã qua sử dụng; 01 bình nhựa màu xanh có nắp màu đỏ, gắn ống hút nhựa màu cam; 01 cuộn băng keo đen đã qua sử dụng; 10 vỏ bọc nilon có kích thước 25,5cm x 3,5cm và 01 cân điện tử màu đen đã qua sử dụng.
- Trả lại cho bị cáo: 01 điện thoại di động hiệu MI có số IMEI 1: 863542041531572, số IMEI 2: 863542041531580 màu đen cùng sim Mobiphone số seri: 8401190892382803WD có số điện thoại 0907496207 đã qua sử dụng; 01 điện thoại di động hiệu Nokia, số IMEI 1: 357327084035183, số IMEI 2: 357327084035191 cùng sim Mobiphone số seri: 8401181150164171WD không rõ số điện thoại, đã qua sử dụng; 01 điện thoại di động hiệu Coolpad, số IMEI 1: 865733032093643, số IMEI 2: 865733032068181 màu vàng gold đã qua sử dụng và Tiền Việt Nam 730.000 đồng (Bảy trăm ba mươi ngàn đồng).
(Vật chứng hiện do Chi cục Thi hành án dân sự quận Ô quản lý)
Về án phí sơ thẩm: Áp dụng Khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án:
Bị cáo phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
| Nơi nhận: - TAND TP. Cần Thơ; - VKSND TP. Cần Thơ; - VKSND Q. Ô; - Chi cục THADS Q. Ô; - Công an Q. Ô; - Sở Tư pháp TP. Cần Thơ; - Bị cáo; - Người tham gia tố tụng; - Lưu hồ sơ vụ án. | (Đã ký) Lê Thị Thúy Hằng |