vanban.org

Bản án 44/2020/HSST — Hình sự

TAND Q. Hà Đông, TP. Hà Nội Tuyên án 12/05/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Phạm Xuân T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy ”.

Về điều khoản áp dụng và hình phạt: Phạm Xuân T 30 ( Ba mươi ) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 27/12/2019. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Mua bán trái phép chất ma túy - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Phạm Xuân T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy ”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 251 Bộ luật Hình sự
Toµ ¸n nh©n d©n qu©n hµ ®«ng

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Thµnh phè hµ néi

B¶n ¸n sè: 44 /2020/HSST.
Ngµy: 12/5/2020

Nh©n danh

N íc Céng hoµ x· héi chñ nghÜa ViÖt Nam

Toµ ¸n nh©n d©n quËn hµ ®«ng

Víi thµnh phÇn Héi ®ång xÐt xö s¬ thÈm gåm cã:

* Thẩm Phán - Chủ tọa phiên tòa: Bµ NguyÔn Tố Hạnh

* Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Thủy

Bà Nguyễn Thị Tiến

* Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Bµ Nguyễn Phương Anh, Thư ký Tòa án

* Đại diện Viện Kiểm Sát nhân dân quận Hà Đông: Bà Nguyễn Phương

Thỏa - Kiểm sát viên.

Ngày 12 tháng 05 năm 2020, tại Trụ sở Tòa án nhân dân quận Hà Đông, thành phố Hà Nội. Tòa án nhân dân quận Hà Đông xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 41/2020/HSST ngày 20 tháng 03 năm 2020, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 49/2020/QĐXXST-HS ngày 23 tháng 04 năm 2020 đối với bị cáo:

Phạm Xuân T, sinh năm 1973.

HKTT: số 17, ngõ 6 khu tập thể D, phường L, quận H, Hà Nội; Quốc tịch:

Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo, đảng phái: Không;

Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 12/12; Con ông: Phạm

Ngọc T ,sinh năm 1940; con bà: Kiều Thị D sinh năm 1949; Vợ: Lê Thị O,

sinh năm 1971; có 01 con sinh năm 2002; Danh chỉ bản số 95 do Công an

quận Hà Đông lập ngày 30/12/2019.

Tiền án, tiền sự: Không.

*Nhân thân: Bản án số 466/HSST ngày 26/10/2010 của Tòa án nhân dân

quận Đống Đa, Hà Nội xử phạt 24 tháng tù, về tội “Tàng trữ trái phép chất

ma túy”. Chấp hành xong hình phạt ngày 28/3/2012 và đã được xóa án.

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 27/12/2019 tại Trại tạm giam số 2-

Công an thành phố Hà Nội. Có mặt tại phiên tòa. D:\HNGD - To Hanh\Hinh su\BA.44.2020.doc

- 2 -

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Bà Kiều Thị D, sinh năm 1949;

Trú quán: Thôn C , xã C, huyện Q, thành phố Hà Nội; Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Phạm Xuân T là đối tượng nghiện ma túy.

Khoảng 09 giờ ngày 27/12/2019, T đi xe máy nhãn hiệu Honda SH 150 màu trắng-đen BKS: 29T1-793.17 từ nhà ra khu vực cầu M, phường P, quận H để tìm mua ma túy heroin về sử dụng và có ai hỏi mua thì bán kiếm lời. Đến nơi, T nhìn thấy một người đàn ông không quen biết trông giống người nghiện, nên lại gần hỏi: “Anh có ma túy heroin không, bán cho em 300.000 đồng”. Người đàn ông bảo: “Có, đưa tiền đây”, thì T lấy trong người ra 300.000 đồng đưa cho người này và được người này đưa lại cho 01 túi nilong màu trắng bên trong có 02 gói nilong (01 gói màu xanh lá cây; 01 gói nilong màu xanh lam), bên trong đều chứa chất bột màu trắng bên ngoài bọc giấy màu trắng. Mua xong, T cầm túi ma túy ở tay rồi điều khiển xe máy đi tìm người để bán. Khoảng 11 giờ 25 phút cùng ngày, khi T đi đến khu vực trước cây xăng L đường L, phường L, quận H, thì bị tổ công tác Công an phường Phúc La, quận Hà Đông làm nhiệm vụ kiểm tra, bắt quả tang. Vật chứng thu giữ trong lòng bàn tay phải của T 01 túi nilông màu trắng kích thước (13x8,5)cm bên trong có 02 gói nilong có đặc điểm trên. Tổ công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Phạm Xuân T, niêm phong vật chứng và tạm giữ chiếc xe máy trên đưa về trụ sở, sau bàn giao cho Cơ quan CSĐT Công an quận Hà Đông điều tra xử lý .

Ngày 27/12/2019, Cơ quan điều tra quyết định trưng cầu giám định gói niêm phong thu giữ của Phạm Xuân T nêu trên. Tại kết luận giám định số 77 ngày 03/01/2020 của của Phòng Kỹ thuật hình sự- Công an thành phố Hà Nội kết luận:

“Chất bột màu trắng bên trong 02 gói nilông đều là ma túy loại Heroin, tổng khối lượng: 0,272 gam”.

Tại cáo trạng số: 35/CT-VKS-HS ngày 18/3/2020 của Viện kiểm sát nhân dân quận Hà Đông truy tố bị cáo Phạm Xuân T, về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản1 Điều 251 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

- 3 -

Tại phiên tòa sơ thẩm bị cáo Phạm Xuân T thừa nhận hành vi phạm tội của mình, bị cáo xin được hưởng mức án thấp nhất.

Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

- Áp dụng khoản1 Điều 251; Điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật

hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, xử phạt: Phạm Xuân T từ 27

tháng tù đến 30 tháng tù.

- Về xử lý vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015: TÞch thu tiªu huû 01 phong bì niêm phong mép dán có chữ ký của Phạm Xuân T và giám định viên Nguyễn Hoàng Hùng và cán bộ Vương Văn Duẩn.

Trả lại cho bà Kiều Thị D 01 chiếc xe máy nhãn hiệu Honda SH 150 màu trắng-đen BKS: 29T1-793.17 số máy KF25E0043464 , số khung 2501GY 043382.

- Về hình phạt bổ sung : Bị cáo không nghề nghiệp nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền.

C¨n cø c¸c chøng cø vµ tµi liÖu ®· ® îc thÈm tra t¹i phiªn toµ, c¨n cø vµo kÕt qu¶ tranh luËn t¹i phiªn toµ trªn c¬ së xem xÐt ®Çy ®ñ toµn diÖn chøng cø, ý kiÕn cña ®¹i diÖn viÖn kiÓm s¸t, bÞ c¸o.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Về tố tụng: Cơ quan điều tra Công an quận Hà Đông và Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Hà Đông và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

. Về nội dung: Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa sơ thẩm phù hợp với với lời khai tại cơ quan điều tra và nội dung bản cáo trạng, biên bản bắt người phạm tội quả tang, tang vật chứng thu giữ và các tài liệu, chứng cứ khác được thu thập hợp pháp trong hồ sơ vụ án có đủ cơ sở kết luận: Do hám lợi và nhu cầu của bản thân, trưa ngày 27/12/2019 Phạm Xuân T đi xe máy đến khu vực cầu M, phường P, quận H mua được 02 gói ma túy loại Heroine, khối lượng 0,272 gam để sử dụng và bán kiếm lời. Trên đường đi về để tìm người bán, khoảng 11 giờ 25 phút cùng ngày khi đi đến khu vực trước cây xăng L, đường L, phường L, quận H, Hà Nội thì bị Công an phường Phúc La, quận Hà Đông phát hiện, bắt quả tang.

- 4 -

Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân quận Hà Đông truy tố bị cáo Phạm Xuân T về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 là có căn cứ, đúng pháp luật.

Hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm chế độ độc quyền quản lý chất ma túy của Nhà Nước. Biết tác hại của việc sử dụng ma túy sẽ làm tổn hại đối với sức khỏe, là nguyên nhân gây lây lan bệnh tật và phát sinh nhiều tội phạm khác, nhưng bị cáo vẫn thực hiện hành vi phạm tội, bất chấp thái độ nghiêm khắc của Nhà nước để ngăn chặn tệ nạn ma túy trong xã hội. Vì vậy, cần áp dụng hình phạt tù nghiêm để cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành người có ích cho xã hội.

Nhân thân bị cáo T có 01 tiền án về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Chấp hành xong hình phạt ngày 28/3/2012 và đã được xóa án tích.

. Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa hôm nay bị cáo đã thành khẩn khai báo hành vi phạm tội và tỏ ra ăn năn hối cải, đây là tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

. Vê hình phạt bổ xung: Do bị cáo không có thu nhập nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

. Về nguồn gốc ma túy: Về nguồn gốc ma túy thu giữ và đối tượng bán cho Phạm Xuân T ngày 27/12/2019: T khai mua của người đàn ông không quen biết tại khu vực cầu Mậu Lương, phường Phúc La, quận Hà Đông. Ngoài lời khai của T thì không có tài liệu nào chứng minh, nên không có căn cứ điều tra xử lý.

. Về xử lý vật chứng:

Số ma túy được hoàn lại sau giám định trong phong bì niêm phong cần tịch thu tiêu hủy.

Đối với chiếc xe máy 01 chiếc xe máy nhãn hiệu Honda SH 150 màu trắng-đen BKS: 29T1-793.17 quá trình điều tra xác định chủ sở hữu của Phạm Xuân T, xe đăng ký chính chủ, có giấy tờ hợp lệ.Tuy nhiên theo lời khai của bà Kiều Thị D ( mẹ đẻ T) thì nguồn tiền mua chiếc xe trên là của vợ chồng ông , bà nhưng do tuổi cao nên nhờ T mua và đứng tên hộ thỉnh thoảng có cho T mượn , ngày 27/12/2019 T mượn xe để mua bán ma túy và bị bắt thì bà không biết nay bà có nguyện vọng xin lại chiếc xe trên cần chấp nhận.

. Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết về án phí, lệ phí Tòa án; bị cáo phải nộp 200.000đồng án phí hình sự sơ thẩm.

- 5 -

. Về quyền kháng cáo: Bị cáo và người có quyền và nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo quy định các Điều 331 và Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Phạm Xuân T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy ”.

2. Về điều khoản áp dụng và hình phạt:

Áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017, xử phạt:

Phạm Xuân T 30 ( Ba mươi ) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 27/12/2019.

3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015:

Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong dán kín, các mép dán có chữ ký của Phạm Xuân T và giám định viên Nguyễn Hoàng Hùng và cán bộ Vương Văn Duẩn.

Trả lại cho bà Kiều Thị D 01 chiếc xe máy nhãn hiệu Honda SH 150 màu trắng-đen BKS: 29T1-793.17, số máy KF25E0043464 , số khung 2501GY 043382.

(theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 07/4/2020 giữa Công an quận Hà Đông và Chi cục thi hành án dân sự quận Hà Đông)..

4. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội: Buộc bị cáo Phạm Xuân T phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Căn cứ các Điều 331 và 333 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015: Bị cáo, người có quyền và nghĩa vụ có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ