vanban.org

Bản án 44/2020/HSST — Hình sự

TAND huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình Tuyên án 14/08/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Dương Thị T phạm tội “Đánh bạc”.

Xử phạt bị cáo Dương Thị T 15 (Mười lăm) tháng cải tạo không giam giữ, thời gian chấp hành hình phạt tính từ ngày Ủy ban nhân dân thị trấn H, huyện B, tỉnh Quảng Bình nhận được bản sao bản án và quyết định thi hành án của Tòa án. Giao bị cáo Dương Thị T cho UBND thị trấn H, huyện B, tỉnh Quảng Bình … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Dương Thị Tình phạm tội "Đánh bạc" - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Dương Thị T phạm tội “Đánh bạc”.
  • Căn cứ chính? Điều 321 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN BỐ TRẠCH
TỈNH QUẢNG BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 44/2020/HSST
Ngày: 14 - 8 - 2020

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BỐ TRẠCH, TỈNH QUẢNG BÌNH.

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: ông Dương Viết Hải

- Các Hội thẩm nhân dân:

Bà: Nguyễn Thị Hải

Ông: Nguyễn Văn Cao

- Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: ông Phan Anh Đức, Thư ký Toà án nhân dân huyện Bố Trạch.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bố Trạch tham gia phiên toà: ông Trần Cẩm Thanh - Kiểm sát viên.

Ngày 14 tháng 8 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình tiến hành mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 39/2020/HSST ngày 19/6/2020, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 40/2020/HSST - QĐ ngày 03 tháng 7 năm 2020, đối với:

Bị cáo: Dương Thị T, sinh ngày 13/5/1988 tại huyện B, tỉnh Quảng Bình; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Tiểu khu 11, thị trấn H, huyện B, tỉnh Quảng Bình; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; trình độ học vấn: 12/12; nghề nghiệp: Lao động tự do; đoàn thể: Quần chúng; con ông Dương Văn V (chết) và bà Lê Thị M; có chồng: Nguyễn Hải C và 02 con: lớn sinh năm 2015, nhỏ sinh năm 2017; tiền án: không; tiền sự: ngày 18/01/2020 bị Công an huyện B ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 0001354/QĐXPHC, với hình thức phạt tiền 2.000.000đồng, về hành vi “Đánh bạc”. Quá trình nhân thân: năm 2016 bị Tòa án nhân dân huyện B xử phạt 08 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 16 tháng về tội “Đánh bạc”, đã được xóa án tích. Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”, có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Ông: Trần Đăng Kh, sinh năm 1963; địa chỉ: Tiểu khu 11, thị trấn H, huyện B, tỉnh Quảng Bình, vắng mặt

2. Ông: Phan Văn Th, sinh năm 1978; địa chỉ: Tiểu khu 12, thị trấn H, huyện B, tỉnh Quảng Bình, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Dương Thị T là người đã bị cơ quan Công an huyện B ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Đánh bạc”, chưa chấp hành xong quyết định xử phạt vi phạm hành chính. Vào khoảng 16 giờ 30 phút ngày 14/3/2020, Dương Thị T đến địa điểm ghi cá cược số lô, đề chuẩn bị trước ở đường Trần Quang Diệu, tiểu khu 12, thị trấn H, huyện B, tỉnh Quảng Bình để ghi cá cược số lô, đề trái phép. Khi đến có anh Trần Đăng Kh đến ghi cá cược số lô, đề với các con số 186, 075, 507, 647, 786, với hình thức “Ba đuôi”, mỗi số 10.000 đồng; số 61, với hình thức “Đuôi”, số tiền cá cược 5.000 đồng; số 186, với hình thức “Ba đuôi”, số tiền cá cược 5.000 đồng và số 86, với hình thức “Đuôi”, số tiền cá cược 20.000 đồng. Tổng số tiền anh Kh ghi cá cược số lô, đề tại bị cáo là 80.000 đồng. Sau khi anh Kh ghi cá cược các số lô, đề thì bị cáo ghi những số mà anh Kh yêu cầu vào tờ giấy trắng, bên dưới tờ giấy trắng được lót bởi tờ giấy than (dùng để sao y lại các số từ tờ giấy trắng). Bị cáo giữ lại tờ gốc, rồi đưa tờ giấy sao y cho anh Kh để sau khi mở thưởng kết quả xổ số thì anh Kh đối chiếu với kết quả xổ số trong ngày, nếu thắng thì anh Kh đến địa điểm của bị cáo nhận tiền thắng cược tương ứng với số tiền anh Kh ghi cá cược, nếu không thắng thì anh Kh mất toàn bộ số tiền bỏ ra ghi cá cược. Sau đó bị cáo tổng hợp vào một tờ giấy rồi chụp ảnh gửi qua mạng xã hội vào tài khoản ZALO có tên “Thanh Lợi” của anh Phan Văn Th. Trong khi bị cáo và anh Kh đang thực hiện hành vi ghi cá cược số lô, đề thì bị lực lượng Công an huyện B phát hiện bắt quả tang.

Hình thức ghi cá cược số lô, đề với anh Kh, bị cáo dựa trên cơ sở đối chiếu với kết quả xổ số kiến thiết mở thưởng cùng ngày. Tỷ lệ cá cược: “Ba đuôi” là ba số cuối của giải đặc biệt, nếu thắng cược thì thắng 600 lần so với số tiền người ghi cá cược bỏ ra; “Đuôi” là hai số cuối của giải đặc biệt, nếu thắng cược thì thắng 80 lần so với số tiền người ghi cá cược bỏ ra. Sau khi có kết quả mở thưởng, bị cáo sẻ đối chiếu với kết quả xổ số kiến thiết trong ngày để biết kết quả thắng thua của người ghi cá cược, rồi trực tiếp chi trả tiền thắng thua cho người ghi cá cược.

Quá trình bắt quả tang, cơ quan Cảnh sát điều tra thu giữ 01 điện thoại di động màn hình cảm ứng, nhãn hiệu Iphone 7 Plus; 80.000 đồng và 01 tờ phơi ghi số lô, đề.

Tại bản Cáo trạng số 37/CT-VKSHBT ngày 17 tháng 6 năm 2020, Viện kiểm sát nhân dân huyện B đã truy tố bị cáo Dương Thị T về tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện B giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo theo toàn bộ nội dung bản cáo trạng, đã xem xét đánh giá tính chất, mức độ, hậu quả hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1, 3 Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 36 Bộ luật hình sự để xử phạt bị cáo từ 12 đến 15 tháng cải tạo không giam giữ. Bị cáo không có công việc và thu nhập ổn định, còn nuôi con nhỏ, điều kiện hoàn cảnh gia đình khó khăn được chính quyền địa phương xác nhận, nên miễn khấu trừ thu nhập đối với bị cáo; về hình phạt bổ sung: để nhằm ngăn ngừa, hạn chế bị cáo có điều kiện phạm tội đề nghị xử phạt bổ sung đối với bị cáo, số tiền 10.000.000 đồng để nộp ngân sách nhà nước; về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự để tuyên tịch thu nộp ngân sách nhà nước số tiền 80.000 đồng; trả lại lại cho bị cáo 01 điện thoại di động không liên quan đến hành vi phạm tội và tuyên án phí, quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Liên quan trong vụ án này còn có anh Trần Đăng Kh đã có hành vi đánh bạc bằng hình thức ghi cá cược số lô, đề cùng với bị cáo, với số tiền tổng cộng 80.000 đồng, nên cơ quan Công an đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với anh Kh; còn anh Phan Văn Th và chủ nhân có số điện thoại “0912520757”, tài khoản ZALO có tên “Thanh Lợi”. Quá trình điều tra bị cáo khai đã làm thư ký ghi cá cược số lô, đề rồi tổng hợp các số lô, đề và gữi cho anh Th thông qua tài khoản ZALO, nhưng cơ quan Điều tra không có căn cứ để chứng minh hành vi của anh Th và chủ nhân có số điện thoại “0912520757”, tài khoản ZALO có tên “Thanh Lợi” có liên quan đến hành vi ghi số lô, đề cùng bị cáo. Vì vậy, cơ quan điều tra tiếp tục điều tra, xác minh, xử lý sau.

Bị cáo nhất trí với toàn bộ nội dung bản cáo trạng và quan điểm luận tội của Kiểm sát viên tại phiên toà. Bị cáo rất ân hận về hành vi phạm tội của mình, xin hứa sẽ không tái phạm nữa. Vì vậy, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được cải tạo, giáo dục tại địa phương để có điều kiện hòa nhập cộng đồng và giúp đỡ gia đình, con cái.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và người tham gia tố tụng không ai có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về tội danh: Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận của bị cáo là hoàn toàn phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của những người tham gia tố tụng và diễn biến quá trình thực hiện hành vi phạm tội, biên bản phạm tội quả tang, vật chứng đã thu giữ, cũng như các tài liệu, chứng cứ khác được thu thập tại hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa. Vì vậy, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ để kết luận. Trước thời điểm mở thưởng kết quả xổ số kiến thiết. Vào khoảng 16 giờ 30 phút, ngày 14/3/2020 bị cáo là người đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Đánh bạc”, chưa chấp hành xong quyết định xử phạt vi phạm hành chính, nhưng đã trực tiếp đánh bạc thắng thua bằng tiền Việt Nam đồng cùng anh Kh, dưới hình thức ghi cá cược số lô, đề trái phép với số tiền 80.000 đồng. Vì vậy, Hội đồng xét xử đủ căn cứ để khẳng định bị cáo Dương Thị T phạm tội “Đánh bạc” quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự, đúng như quyết định truy tố của Viện kiểm sát, quan điểm luận tội của Kiểm sát viên, lời khai nhận tội của bị cáo và những người tham gia tố tụng khác.

Xét về tính chất, mức độ, hậu quả của hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện thấy: Bị cáo là người đã có gia đình, đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Đánh bạc”, nên nhận thức được hành vi đánh bạc thắng thua bằng tiền Việt Nam đồng trái phép dưới bất cứ hình thức nào đều vi phạm pháp luật, bị xã hội lên án, gây ra nhiều tác hại và hệ lụy cho xã hội cũng như chính gia đình và bản thân của bị cáo, nhưng do thiếu ý thức rèn luyện bản thân, coi thường pháp luật, thu lợi bất chính nên đã cố ý thực hiện hành vi một cách tích cực. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm, đã trực tiếp xâm phạm đến trật tự công cộng và nếp sống văn minh của xã hội, gây mất trật tự trị an xã hội và bất bình trong dư luận quần chúng nhân dân. Vì vậy, Hội đồng xét xử nghĩ cần có một hình phạt tương xứng với hành vi mà bị cáo đã thực hiện mới có tác dụng cải tạo, giáo dục bị cáo và góp phần đấu tranh, phòng ngừa chung.

Xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo thấy: bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Trong quá trình điều tra và tại phiên toà đều luôn khai báo thành khẩn, có thái độ ăn năn hối cải và nhận thức được hành vi sai trái của mình, có hướng khắc phục sửa chữa lỗi lầm của bản thân; bị cáo có nhân thân không tốt, còn nuôi con nhỏ, gia đình có hoàn cảnh khó khăn được chính quyền đại phương xác nhận. Vì vậy, cần áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

Về hình phạt: Trên cơ sở đánh giá tính chất, mức độ, hậu quả, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo thấy: bị cáo tham gia đánh bạc với số tiền không lớn, bị cáo không có tình tiết tăng nặng, là phụ nữ, phải nuôi con nhỏ, công việc và thu nhập không ổn định nên hoàn cảnh gia đình khó khăn được chính quyền địa phương xác nhận, có nơi cư trú rõ ràng nên có khả năng tự tu dưỡng, rèn luyện, cải tạo bản thân tại địa phương. Vì vậy, nghĩ chưa cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội, mà áp dụng Điều 36 Bộ luật hình sự để xử phạt cải tạo không giam giữ và miễn khấu trừ thu nhập đối với bị cáo. Giao bị cáo cho chính quyền địa phương, phối hợp với gia đình giám sát, giáo dục cũng đủ tác dụng cải tạo, giáo dục, răn đe bị cáo và phòng ngừa chung, như quan điểm đề nghị của đại diện Viện kiểm sát và ý kiến của bị cáo.

Về hình phạt bổ sung: bị cáo đã sử dụng tiền Ngân hàng nhà nước Việt Nam để thực hiện hành vi đánh bạc, có tính thu lợi bất chính. Vì vậy, để nhằm ngăn ngừa, hạn chế bị cáo có điều kiện phạm tội. Hội đồng xét xử, nghĩ cần chấp nhận ý kiến đề nghị của đại diện Viện kiểm sát để phạt bổ sung tiền đối với bị cáo theo quy định tại khoản 3 Điều 321 Bộ luật hình sự là phù hợp.

Về xử lý vật chứng: Xét thấy vật chứng số tiền 80.000 đồng đã thu giữ là công cụ, phương tiện mà bị cáo sử dụng vào việc phạm tội, thu lợi bất chính nên cần tịch thu nộp ngân sách nhà nước; còn 01 điện thoại di động không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo, nên cần trả lại cho bị cáo là phù hợp với quy định tại điểm b khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

Trong vụ án này còn có anh Trần Đăng Kh đã có hành vi đánh bạc bằng hình thức ghi cá cược số lô, đề cùng với bị cáo, với số tiền 80.000 đồng, nhưng anh Kh chưa có tiền án, tiền sự về hành vi đánh bạc, tổ chức đánh bạc, nên không đủ yếu tố cấu thành tội phạm. Vì vậy, cơ quan Công an huyện B đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với anh Kh là có căn cứ. Đối với anh Phan Văn Th và chủ nhân có số điện thoại “0912520757”, tài khoản ZALO có tên “Thanh Lợi”. Quá trình điều tra cơ quan điều tra không đủ chứng cứ chứng minh hành vi của anh Th và tài khoản ZALO có tên “Thanh Lợi” có liên quan đến hành vi ghi cá cược số lô, đề cùng bị cáo. Vì vậy, cơ quan điều tra tiếp tục xác minh, điều tra, xử lý sau.

Về án phí và quyền kháng cáo: Buộc bị cáo Dương Thị T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm để nộp vào ngân sách Nhà nước. Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1, khoản 3 Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 36 và điểm b khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 3 Điều 106 và khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

1. Tuyên bố bị cáo Dương Thị T phạm tội “Đánh bạc”.

Xử phạt bị cáo Dương Thị T 15 (Mười lăm) tháng cải tạo không giam giữ, thời gian chấp hành hình phạt tính từ ngày Ủy ban nhân dân thị trấn H, huyện B, tỉnh Quảng Bình nhận được bản sao bản án và quyết định thi hành án của Tòa án. Giao bị cáo Dương Thị T cho UBND thị trấn H, huyện B, tỉnh Quảng Bình phối hợp với gia đình giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ.

Miễn khấu trừ thu nhập đối với bị cáo Dương Thị T.

2. Về hình phạt bổ sung:

Xử phạt bị cáo Dương Thị T số tiền 10.000.000 đồng (Mười triệu đồng) để nộp ngân sách Nhà nước.

3. Về xử lý vật chứng:

Xử tuyên tịch thu nộp vào ngân sách nhà nước số tiền 80.000 đồng (Tám mươi nghìn đồng) theo giấy nộp tiền vào tài khoản của Chi cục thi hành án dân sự huyện B ngày 30/7/2020. Tuyên trả lại 01 điện thoại di động màn hình cảm ứng, nhãn hiệu Iphone 7 Plus cho bị cáo Dương Thị T (các vật chứng có đặc điểm như biên bản giao nhận vật chứng giữa cơ quan Cảnh sát điều tra với Chi cục Thi hành án dân sự huyện B ngày 30/7/2020).

4. Về án phí: Xử buộc bị cáo Dương Thị T phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm để nộp vào ngân sách nhà nước.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 luật Thi hành án dân sự thì người phải thi hành án dân sự có quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b, 9 luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 luật Thi hành án dân sự.

Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc Tòa án niêm yết bản án.

Cỡ chữ