- Tranh chấp gì? án hình sự — "Bùi Nguyễn T - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Bùi Nguyễn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HOÀ BÌNH TỈNH HÒA BÌNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số:44/2020/HS-ST Ngày: 26/5/2020. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÒA BÌNH, TỈNH HÒA BÌNH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có :
- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Bùi Thị Mai Linh
- Các Hội thẩm nhân dân : Ông Trần Viết Tỵ và ông Nguyễn Xuân Giao
- Thư ký phiên tòa: Bà Bùi Thị Thu Hằng - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Hòa Bình, tỉnh Hòa Bình.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hòa Bình, tỉnh Hòa Bình tham gia phiên tòa: Ông Khuất Duy Xuân Quý - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 5 năm 2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hòa Bình, tỉnh Hòa Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 48/2020/TLST-HS ngày 29 tháng 4 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 45/2020/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 5 năm 2020 đối với bị cáo:
Bị cáo Bùi Nguyễn T, sinh ngày 27/8/1995
Nơi ĐKHKTT và chỗ ở : Phố N.D, thị trấn V, huyện L.S tỉnh Hòa Bình.
Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn : 9/12. Dân tộc: Mường; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông : Bùi Văn N, sinh năm 1959 và bà Nguyễn Thị Ngọc Y, sinh năm 1965; Vợ: Bùi Thị Thu H, sinh năm 1999 và 01 con gái: Bùi Hương Ngọc K, sinh năm 2017; Gia đình bị cáo có 02 chị em, bị cáo là con thứ hai trong gia đình.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 12/02/2020, hiện đang tạm giữ, tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố Hòa Bình được trích xuất nay có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 12 giờ 00 phút ngày 12/02/2020, Bùi Nguyễn T đi xe khách từ thành phố Hà Nội đến khu vực cây xăng TB thuộc xã TrM, thành phố Hòa Bình thì xuống xe. Sau đó, T đi taxi đến khu vực nhà hàng HC thuộc xóm m, xã S, thành phố Hòa Bình rồi bảo lái xe đứng đợi và xuống xe đi bộ vào quán nước ven đường mục đích tìm mua ma túy để sử dụng. Tại đây, qua trao đổi T mua được của một người đàn ông không quen biết 02 gói ma túy với giá 200.000 đồng. T cất giấu 02 ma túy vào túi quần phía sau bên phải đang mặc rồi quay lại chỗ xe taxi đang đứng đợi đi tiếp đến bên xe trung tâm thuộc tổ m, phường P, thành phố Hòa Bình. T xuống xe đi bộ được một đoạn thì bị Tổ công tác Công an thành phố Hòa Bình phát hiện và bắt quả tang về hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy, thu giữ toàn bộ số ma túy T vừa mua được và dẫn giải T về trụ sở công an phường Phương Lâm, thành phố Hòa Bình tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và niêm phong vật chứng theo quy định.
Tại bản kết luận giám định số: 36/KLGĐ-CAT-PC09 ngày 19/02/2020 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hòa Bình kết luận: “Chất bột màu trắng trong 02 gói giấy trong phong bì niêm phong ghi tên Bùi Nguyễn Trí gửi giám định có tổng khối lượng 0,16 gam là ma túy, loại Heroin”
Quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình. Lời khai của bị cáo phù hợp với các chứng cứ khác có trong hồ sơ và phù hợp với nội dung của bản Cáo trạng.
Tại bản Cáo trạng số: 43/CT-VKS ngày 29/4/2020 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hòa Bình truy tố Bùi Nguyễn Tvề tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hòa Bình luận tội đối với bị cáo, giữ nguyên quyết định truy tố như nội dung bản Cáo trạng đã nêu. Đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng; giảm nhẹ trách nhiệm hình sự; nhân thân bị cáo. Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố Bùi Nguyễn T phạm tội “àng trữ trái phép chất ma túy” xử phạt Bùi Nguyễn T từ 12 (Mười hai) đến 15 (Mười lăm) tháng tù.
Về xử lý vật chứng : Căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, đề nghị tịch thu, tiêu huỷ 01 (Một) phong bì niêm phong mẫu giám định ma túy, hoàn trả sau giám định.
Bị cáo phải nộp án phí HSST.
Phần tranh luận: Bị cáo không có tranh luận gì.
Lời nói sau cùng của bị cáo : Bị cáo đã nhận thức rõ hành vi của bản thân là vi phạm pháp luật và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra; Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
. Về hành vi của bị cáo: Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay, bị cáo thừa nhận đã có hành vi tàng trữ trái phép 0,16 gam ma túy loại Heroin nhằm mục đích sử dụng cho bản thân, bị Công an TP Hòa Bình phát hiện bắt quả tang cùng tang vật.
Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của người chứng kiến, biên bản bắt người phạm tội quả tang, bản kết luận giám định cũng như các tài liệu, chứng cứ khác trong hồ sơ vụ án. Do vậy có đủ cơ sở kết luận bị cáo Bùi Nguyễn T đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy ” theo điểm (c ) khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự đúng như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân TP Hòa Bình đã truy tố.
. Về tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội; nhân thân người phạm tội và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến chính sách quản lý chất gây nghiện của nhà nước, góp phần làm gia tăng tệ nạn ma túy, gây mất trật tự trị an trên địa bàn thành phố Hòa Bình. Bị cáo là người có năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ hành vi tàng trữ trái phép ma túy là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố tình thực hiện.
Vì vậy cần có mức án nghiêm khắc, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định mới đủ để cải tạo, giáo dục bị cáo cũng như răn đe phòng ngừa tội phạm chung.
Tuy nhiên, khi lượng hình xét bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn, tỏ ra ăn năn hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của BLHS năm 2015.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.
Xem xét về nhân thân và điều kiện kinh tế của bị cáo, Hội đồng xét xử thấy không cần thiết áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
. Về các hành vi, tình tiết khác của vụ án:
Về nguồn gốc ma túy bị cáo khai mua của một người đàn ông không quen biết tại khu vực xóm b, xã S, thành phố Hòa Bình. Quá trình điều tra do chưa đủ căn cứ kết luận về đối tượng đã bán ma túy cho bị cáo nên cơ quan điều tra tiếp tục điều tra xác minh làm khi nào rõ sẽ xử lý theo quy định pháp luật.
. Về xử lý vật chứng : Căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự :
Xét thấy cần tịch thu, tiêu huỷ: 01 (Một) phong bì niêm phong mẫu giám định ma túy hoàn trả sau giám định của phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hòa Bình mang tên Bùi Nguyễn T được ghi chi tiết tại Biên bản giao nhận vật chứng số 70/BB ngày 21/05/2020 giữa Công an thành phố Hòa Bình và Chi cục thi hành án dân sự thành phố Hoà Bình.
. Về án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo bản án theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ : Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự;
Tuyên bố: Bị cáo Bùi Nguyễn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”
Xử phạt: Bùi Nguyễn T12 Mười hai ) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 12/02/2020
2. Về xử lý vật chứng : Căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:
Tịch thu tiêu huỷ : (Một) phong bì niêm phong mẫu giám định ma túy hoàn trả sau giám định của phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hòa Bình mang tên Bùi Nguyễn mép dán niêm phong có dấu tròn đỏ của phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hòa Bình và chữ ký của các thành phần tham gia niêm phong được ghi chi tiết trong nội dung Biên bản giao nhận vật chứng số 70/BB ngày 21/05/2020 giữa Công an thành phố Hòa Bình và Chi cục thi hành án dân sự thành phố Hoà Bình.
3. Về án phí : Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Buộc bị cáo Bùi Nguyễn T phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
| Nơi nhận: - Tòa án ND tỉnh HB; - Sở tư pháp tỉnh HB; - VKSND thành phố HB; - VKSND tỉnh Hòa Bình; - Công an thành phố HB; - Thi hành án hình sự; - Chi cục Thi hành án DS TPHB; - Bị cáo ; - Lưu hồ sơ, án văn. | TM/ HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán, Chủ Tọa phiên tòa Bùi Thị Mai Linh |