- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn văn L - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ỨNG HÒA –TP HÀ NỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 44/2020/HS-ST Ngày: 28-7-2020 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ỨNG HÒA – TP HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Bùi Thanh Minh
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Hạ Tuấn và ông Đặng Viết Côi
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Duyên – Thư ký Tòa án nhân dân
huyện Ứng Hoà, thành phố Hà Nội.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ứng Hòa tham gia phiên toà:
Ông Nguyễn Thuyên - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 7 năm 2020 tại Tòa án nhân dân huyện Ứng Hòa, TP. Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 53/2020/TLST-HS ngày 07 tháng 7 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 47/2020/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 7 năm 2020 đối với bị cáo:
Nguyễn Văn L, sinh năm 1989; Nơi ĐKHKTT: thôn T, xã C, huyện P, TP. Hà Nội; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hoá: 5/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn Hay và bà Lại Thị Thoan; vợ: Nguyễn Thị Hương, con: 03 con (lớn sinh năm 2009, nhỏ sinh năm năm 2015); Tiền án, tiền sự: không.
Nhân thân: Ngày 24/6/2010 bị Chủ tịch UBND huyện Phú Xuyên áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở chữa bệnh bắt buộc thời hạn 24 tháng, chấp hành xong cai nghiện ngày 10/6/2012.
Ngày 31/5/2016, bị Tòa án nhân dân huyện Phú Xuyên, TP. Hà Nội xử phạt 30 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, chấp hành xong hình phạt từ ngày 09/02/2018.
Bị cáo bị bắtquả tang, tạm giữ tại Nhà tạm giữ - Công an huyện Ứng Hòa sau chuyển Trại tạm giam số 2 công an TP. Hà Nội từ ngày 22/4/2020 đến nay. (Có mặt)
* Người làm chứng: Bà Trịnh Thị T – sinh năm 1964 (vắng mặt)
Nơi ĐKHKTT: Thôn V, xã Đ, huyện Ư, Hà Nội
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 06 giờ ngày 22/4/2020, Nguyễn Văn L – sinh năm 1989 ở thôn T, xã C huyện P, TP. Hà Nội đi nhờ xe mô tô của một người đàn ông không quen biết đến khu vực xã Trầm Lộng, huyện Ứng Hòa, TP, Hà Nội tìm mua được 01 gói ma túy với giá 100.000 đ của một người đàn ông không quen biết. Sau khi mua được ma túy, L cất gói ma túy vào túi quần sau bên phải đang mặc và đi bộ đến khu vực thôn Vọng Tân, xã Đồng Tân, huyện Ứng Hòa tìm mua xi lanh để sử dụng ma túy thì bị lực lượng công an xã Đồng Tân kiểm tra. Tại chỗ L tự nguyện giao nộp cho cơ quan công an 01 gói bọc ngoài bằng giấy, mở ra bên trong có bột màu trắng và khai nhận là ma túy L vừa mua để sử dụng. Công an xã Đồng Tân đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với L và thu giữ, niêm phong vào phong bì thư đề mẫu A1, sau đó bàn giao L và vật chứng cho công an huyện Ứng Hòa để xử lý theo pháp luật.
Vật chứng thu giữ: 01 gói bọc ngoài bằng giấy, bên trong có bột màu trắng được niêm phong vào phong bì thư đề mẫu A1.
Khám xét khẩn cấp chỗ ở của Nguyễn Văn L, không phát hiện và thu giữ được gì.
Ngày 22/4/2020, cơ quan CSĐT công an huyện Ứng Hòa ra Quyết định trưng cầu giám định số 67 đối với 01 gói bên ngoài bọc bằng giấy được niêm phong trong phong bì thư đề mẫu A1 trên. Tại bản Kết luận số 3224/KLGĐ-PC09 ngày 01/5/2020 của phòng kỹ thuật Công an thành phố Hà Nội kết luận: “ Chất bột màu trắng bên trong 01 gói giấy (mẫu A1) là ma túy loại Heroin khối lượng 0,105 gam”
Với hành vi nêu trên, tại bản Cáo trạng số: 47/CT-VKS ngày 06 tháng 7 năm 2020 Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện Ứng Hòa đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn L về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của BLHS.
Tại phiên toà: Bị cáo đã thừa nhận hành vi như bản Cáo trạng đã nêu.
Đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249BLHS; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 BLHS xử phạt bị cáo L từ 18 tháng đến 24 tháng tù được trừ thời gian tạm giữ. Áp dụng khoản 1 Điều 46, khoản 1 Điều 47 BLHS và Điều 106 BLTTHS: tịch thu tiêu hủy số ma túy gửi lại sau giám định. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Bị cáo phải nộp án phí theo quy định.
Căn cứ vào những chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà; kết quả tranh luận tại phiên toà, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các chứng cứ và tài liệu, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác .
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Tại phiên toà bị cáo nhận tội như nội dung bản Cáo trạng đã nêu. Xét lời nhận tội của bị cáo phù hợp với lời trình bày của người làm chứng; vật chứng đã thu giữ được cùng các tài liệu khác đã được thu thậphợppháp có tronghồsơvụán.
Như vậy, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ khẳng định: Ngày 22/4/2020, Nguyễn Văn L đã mua và tàng trữ 0,105 gam chất ma túy Heroin nhằm mục đích để sử dụng. Khi L đi đến thôn Vọng Tân, xã Đồng Tân, huyện Ứng Hòa, TP Hà Nội thì bị Công an xã Đồng Tân phát hiện bắt quả tang.
Hành vi trên của bị cáo đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố bị cáo với tội danh và điều luật nêu trên là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.
Xét, hành vi phạm tội của bị cáo Nguyễn Văn L đã thực hiện là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chính sách độc quyền quản lý và sử dụng chất ma tuý của Nhà nước, làm gia tăng tệ nạn ma tuý, ảnh hưởng đến an ninh trật tự xã hội, là nguyên nhân phát sinh các tội phạm khác. Bản thân bị cáo có đủ năng lực chịu trách hiệm hình sự và nhận thức rõ được tác hại của ma túy và hơn nữa bị cáo đã từng bị xử phạt về tội “tàng trữ trái phép chất ma túy”, không lấy đó là bài học. Do vậy phải áp dụng hình phạt nghiêm khắc mới có tác dụng đối với bị cáo và phòng ngừa chung, cần cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định mới phản ánh đúng tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội do bị cáo gây ra.
Tuy nhiên, trong quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải do đó Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo là phù hợp với quy định tại điểm s khoản 1Điều 51 Bộ luật hình sự.
Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có việc làm ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Đối với nguồn gốc số ma tuý L tàng trữ khi bị bắt ngày 22/4/2020: Tại Cơ quan điều tra, L khai nhận việc mua của một người đàn ông cao 1,6m, khoảng 50 tuổi, bản thân L không biết rõ tên, tuổi, địa chỉ của người này, việc mua bán ma túy diễn ra ngoài đường khu vực xã Trầm Lộng, huyện Ứng Hòa không có ai biết. Do vậy, không đủ căn cứ xác định nguồn gốc số ma tuý và người bán ma tuý trên.
Về xử lý vật chứng: Đối với 01 phong bì niêm phong gửi lại sau giám định thu giữ của Nguyễn Văn L cần tịch thu tiêu hủy là phù hợp với quy định tại Điều 46, Điều 47 BLHS và Điều 106 BLTTHS.
Về án phí, quyền kháng cáo: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo Điều 135; khoản 2 Điều 136 BLTTHS Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; bị cáo được quyền kháng cáo theo quy định tại Điều 331, Điều 333BLTTHS.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 46, 47 của BLHS;
Căn cứ Điều 106; Điều 135; khoản 2 Điều 136; Điều 331 và Điều 333 của BLTTHS.
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án;
1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
2. Xử phạt: Nguyễn Văn L 24 (Hai mươi bốn) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 22/4/2020.
3. Về vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong gửi lại sau giám định tên đối tượng là Nguyễn Văn L.(Tình trạng như biên bản giao, nhận vật chứng giữa Công an và Chi cục thi hành án dân sự huyện Ứng Hoà ngày 08/7/2020)
4. Về án phí: Bị cáo Nguyễn Văn L phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND TP Hà Nội; - VKSND huyện Ứng Hoà; - Công an huyện Ứng Hòa; - Chi cục THADS Ứng Hoà; - UBND xã nơi bị cáo ĐKTT; - Bị cáo; - Các đương sự; - Lưu hs; V/P./. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Bùi Thanh Minh |