- Tranh chấp gì? án hình sự — "Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 21 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LÝ NHÂN, TỈNH HÀ NAM | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Số: 44/2020/HS-ST Ngày: 03/09/2020 |
HUYỆN LÝ NHÂN Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LÝ NHÂN, TỈNH HÀ NAM
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Đinh Thành Nam. Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Trần Đức Nam 2. Bà Nguyễn Thị Quyên. - Thư ký phiên toà: Bà Lê Thị Hân - Thư ký Toà án nhân dân huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam. - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam tham gia phiên toà: Ông Trần Xuân Sáng - Kiểm sát viên. Ngày 03 tháng 9 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 43/2020/TLST- HS ngày 11 tháng 8 năm 2020 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 44/2020/QĐXXST-HS ngày 20 tháng 8 năm 2020, đối với bị cáo: Vũ Đình N, sinh năm 1986 tại Hà Nam; nơi cư trú: Thôn S, xã Đ, huyện L, tỉnh Hà Nam; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: Lớp 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Vũ Đình T và bà Nguyễn Thị C; có vợ là Nguyễn Thị T và có 02 con; tiền án, tiền sự: Không. Nhân thân: Ngày 30/7/2014 bị Tòa án nhân dân quận Hai bà Trưng, Thành phố Hà Nội xử phạt 24 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Đã được xóa án tích. Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 12/6/2020 đến nay, có mặt. * Người làm chứng: Anh Nguyễn Văn B; vắng mặt. * Người chứng kiến: Anh Phạm Ngọc T; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 08 giờ 00 phút ngày 12/6/2020, tại trục đường bê tông liên thôn thuộc Thôn S, xã Đ, huyện L, tỉnh Hà Nam, tổ công tác Công an huyện Lý Nhân phối hợp với công an xã Đ phát hiện Vũ Đình N đang đi bộ có biểu hiện nghi vấn liên quan đến tội phạm về ma túy nên tiến hành kiểm tra hành chính. Khi kiểm tra hành chính đối với Vũ Đình N, phát hiện và thu giữ: phía trong vành mũ vải màu đen N đang đội trên đầu 01 ống nhựa màu trắng có sọc màu cam được hàn kín hai đầu, mở ống nhựa ra bên trong có chứa chất bột dạng cục màu trắng sau đó lực lượng công an đã hàn kín hai đầu ống nhựa lại và được niêm phong trong phong bì ký hiệu QT, N khai đó ma túy loại Heroine mua về để sử dụng cho bản thân. Tiến hành khám xét chỗ ở, đồ vật của Vũ Đình N không thu giữ đồ vật, tài sản gì. Tại bản kết luận số 97/PC09-MT ngày 14/6/2020 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Hà Nam, kết luận: Mẫu bột màu trắng dạng cục trong phong bì ký hiệu QT gửi giám định là ma túy, có khối lượng là 0,203gam (Không phảy hai trăm linh ba gam), loại Heroine.. Quá trình điều tra Vũ Đình N khai: Khoảng 07 giờ 15 phút ngày 12/6/2020, N đi bộ từ nhà đến khu vực chợ Chều xã N gặp một người đàn ông không biết tên tuổi, địa chỉ và mua được của người đàn ông này 01 gói ma túy Heroine với giá 200.000đồng để sử dụng. N cất gói ma túy trong lớp vải dưới vành mũ lưỡi trai đội lên đầu đi bộ về nhà tìm chỗ sử dụng. Khi về đến đường bê tông liên thôn thuộc thôn S, xã Đ, huyện L, tỉnh Hà Nam thì bị Công an bắt quả tang. Tại bản cáo trạng số 47/CT-VKSLN ngày 10/8/2020 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam đã truy tố Vũ Đình N về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Tại phiên tòa: - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lý Nhân giữ nguyên cáo trạng truy tố Vũ Đình N đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Vũ Đình N từ 30 đến 36 tháng tù và hướng xử lý vật chứng theo quy định của pháp luật. Bị cáo Vũ Đình N khai nhận hành vi của mình đúng như cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố. Bị cáo không có ý kiến tranh luận bào chữa hay khiếu nại gì và đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau: [1] Về tố tụng: Quá trình điều tra cũng như tại phiên toà bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng. Các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. [2] Về tội danh: Lời khai của bị cáo Vũ Đình N tại phiên tòa là phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của những người tham gia tố tụng khác; lời nhận tội của bị cáo cũng được chứng minh bởi biên bản bắt người có hành vi phạm tội quả tang, vật chứng của vụ án thu được cùng các tài liệu có trong hồ sơ vụ án. Do đó đủ cơ sở kết luận: Hồi 08 giờ 00 phút ngày 12/6/2020, tại trục đường bê tông liên thôn thuộc thôn S, xã Đ, huyện L, tỉnh Hà Nam, Công an huyện Lý Nhân phối hợp với Công an xã Đ bắt quả tang Vũ Đình N đang cất giấu trái phép 01 gói ma túy loại Heroine có khối lượng 0,203gam để sử dụng. Hành vi nêu trên của bị cáo Vũ Đình N đã phạm vào tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Quan điểm kết tội của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam đối với bị cáo đúng người, đúng tội, đúng pháp luật [2] Về hình phạt: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý các chất ma tuý của Nhà nước. Tệ nạn ma túy có chiều hướng gia tăng với nhiều thủ đoạn thực hiện hành vi phạm tội tinh vi, xảo quyệt, gây bức xúc, nhức nhối trong nhân dân. Tệ nạn ma túy để lại nhiều hậu quả nặng nề cho gia đình có người nghiện và xã hội. Vì vậy, cần áp dụng mức hình phạt nghiêm khắc tương xứng tính chất, hành vi phạm tội của bị cáo; cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới cải tạo bị cáo, đồng thời có tác dụng phòng ngừa tội phạm chung. - Về nhân thân: Bị cáo chưa có tiền án, tiền sự nhưng có nhân thân xấu (Ngày 30/7/2014 đã bị Tòa án nhân dân quận Hai Bà Trưng xử phạt 24 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”). - Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào. - Về tình tiết giảm nhẹ: Sau khi phạm tội, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Hội đồng xét xử sẽ cân nhắc yếu tố
nhân thân và các tình tiết này giảm nhẹ một phần hình phạt để bị cáo yên tâm chấp hành án, sớm hòa nhập cộng đồng xã hội. [4] Về hình phạt bổ sung: Bị cáo phạm tội không nhằm mục đích thu lợi nên không áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với bị cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự. [5] Về xử lý vật chứng: Tịch thu và tiêu hủy 01 phong bì niêm phong sau giám định của phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hà Nam. [6] Về các vấn đề khác: Đối với đối tượng Vũ Đình N khai đã bán ma túy cho N, do chỉ có lời khai duy nhất của bị cáo và thông tin về đối tượng không đầy đủ nên cơ quan điều tra không có đủ căn cứ để xác minh, xử lý. [7] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm. [8] Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật. Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự . Tuyên bố bị cáo Vũ Đình N phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. Xử phạt bị cáo Vũ Đình N 33 (Ba mươi ba) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam 12/6/2020. 2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng vào Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: - Tịch thu và tiêu huỷ: 01 phong bì niêm phong có số 97/PC09-MT ngày 14/6/2020 ghi mẫu vật hoàn trả QT sau giám định của phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Hà Nam (Tình trạng, đặc điểm vật chứng như biên bản giao nhận vật chứng giữa cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Lý Nhân với Chi cục Thi hành án dân sự huyện L lập ngày 11/8/2020). 3. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 21, khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án: - Buộc bị cáo Vũ Đình N phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự. 4. Quyền kháng cáo bản án: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Nơi nhận: - TAND tỉnh Hà Nam; - VKSND tỉnh Hà Nam; - Trại giam CA tỉnh Hà Nam; - Sở Tư pháp tỉnh Hà Nam; Đã ký - VKSND huyện Lý Nhân; - Công an huyện Lý Nhân; - Chi cục THADS huyện L; - Bị cáo; Đinh Thành Nam - Lưu: Hồ sơ + Văn phòng. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ |