- Tranh chấp gì? án hình sự — "Huỳnh Xuân T - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Huỳnh Xuân T.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 260 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 44/2020/HS-PT Ngày: 06-03-2020. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Văn Ngầu.
Các Thẩm phán: Ông Lâm Văn Be;
Bà Phạm Thị Thanh Giang
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Phố - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh
Tây Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Bé Thi - Kiểm sát viên.
Trong 02 ngày 03 tháng 3 và ngày 06 tháng 3 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 21/2020/TLPT-HS ngày 07 tháng 01 năm 2020 đối với bị cáo Huỳnh Xuân T do có kháng cáo của bị cáo Huỳnh Xuân T đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 103/2019/HS-ST ngày 29 tháng 11 năm 2019 của Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh Tây Ninh.
Bị cáo có kháng cáo:
Huỳnh Xuân T, sinh ngày 24 tháng 7 năm 1987 tại tỉnh Long An; nơi cư trú: A3/15B, tổ 36, ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh; nghề nghiệp: Làm mướn; trình độ học vấn: 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Cao đài; quốc tịch: Việt Nam; con ông Huỳnh Văn L và bà Võ Thị T (đã chết); vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không có; bị cáo bị áp dụng Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 25-10-2019 cho đến ngày 25-12-2019;
Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
Ngoài ra còn có những người tham gia tố tụng khác không có kháng cáo nên Tòa án không triệu tập.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 16 giờ 30 phút, ngày 22-8-2019, Huỳnh Xuân T điều khiển xe mô tô biển số 70G1-293.85 lưu thông trên quốc lộ 22B theo hướng từ Trường Chính trị đi ngã tư xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh để đến quán ăn “TT”. Do không biết quán nên T vừa điều khiển xe, vừa nhìn hai bên đường để tìm kiếm nên không tập trung quan sát phía trước. Khi đến đoạn đường thuộc ấp H, xã T huyện T, tỉnh Tây Ninh, T nghe phía sau có người gọi nên quay đầu lại làm tay lái bên phải xe môt tô của T va quẹt vào hông trái ông Trần Văn K, sinh năm 1940, ngụ ấp H2, xã K, huyện M, tỉnh An Giang đang chống chân ngồi trên xe đạp dừng cặp lề phải cùng chiều hướng đi của T, làm ông K té xuống đường bị thương, được T và một người phụ nữ có mặt tại hiện trường đưa đến Bệnh viện Đa khoa tỉnh Tây Ninh cấp cứu, đến ngày 25-8-2019 thì ông K tử vong.
Tại Bản kết luận giám định pháp y về tử thi số 1127/KL-KTHS ngày 20-8- 2019 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Tây Ninh, kết luận: Trần Văn K tử vong do chấn thương sọ não.
Kết quả xét nghiệm ngày 22-8-2019 của Bệnh viện Cao Văn Chí: Huỳnh Xuân T không có nồng độ cồn.
Bị cáo Huỳnh Xuân T đã bồi thường 53.000.000 đồng cho gia đình bị hại, gia đình bị hại có đơn bãi nại cho bị cáo.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 103/2019/HS-ST ngày 29 tháng 11 năm 2019 của Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh Tây Ninh tuyên xử:
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Tuyên bố bị cáo Huỳnh Xuân T phạm tội“Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
Xử phạt bị cáo Huỳnh Xuân T 01 (một) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo đi chấp hành án.
Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn tuyên về các biện pháp tư pháp, án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 29 tháng 11 năm 2019, bị cáo Huỳnh Xuân T kháng cáo xin hưởng án treo.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh phát biểu: Về tố tụng, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp. Về nội dung, căn cứ vào hồ sơ, tài liệu vụ án, xác định Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử đúng người, đúng tội, xử phạt bị cáo mức phạt 01 năm tù là phù hợp. Tại phiên tòa phúc thẩm, đại diện hợp pháp của bị hại tiếp tục có đơn xin bãi nại, xin cho bị cáo được hưởng án treo; xét thấy bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng có thể tự cải tạo, không cần bắt bị cáo đi chấp hành án. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của bị cáo, căn cứ điểm b khoản 1, Điều 355 và Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự, sửa bản án sơ thẩm, giữ nguyên mức hình phạt, cho bị cáo hưởng án treo, thời gian thử thách là 02 năm, tính từ ngày tuyên án phúc thẩm.
- Bị cáo không tranh luận.
Bị cáo nói lời nói sau cùng: Bị cáo rất hối hận về hành vi của mình. Xin Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo hưởng án treo để bị cáo có điều kiện chăm sóc gia đình.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Lời khai của bị cáo Huỳnh Xuân T tại phiên tòa phúc thẩm phù hợp với các tài liệu, chứng cứ thu thập có trong hồ sơ vụ án, có cơ sở xác định: Vào khoảng 16 giờ 30 phút, ngày 22-8-2019 Huỳnh Xuân T điều khiển xe mô tô biển số 70G1-293.85 lưu thông trên quốc lộ 22B đoạn thuộc ấp H, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh do không chú ý quan sát phía trước nên đã va quẹt vào hong trái ông Trần Văn K đang dừng xe đạp cùng chiều, hậu quả làm ông K chấn thương sọ não, được đưa đi bệnh viện Đa khoa Tây Ninh điều trị, đến ngày 25-8-2019 ông K tử vong. Hành vi của bị cáo T bị Tòa án cấp sơ thẩm xét xử về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội.
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội đã xâm phạm đến trật tự, an toàn giao thông đường bộ và gây hậu quả chết người. Do vậy cần phải có hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo để đảm bảo tính răn đe, giáo dục và phòng ngừa tội phạm.
Xét kháng cáo của bị cáo T, xin được hưởng án treo thấy rằng: Khi quyết định hình phạt, Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo, như bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; đã bồi thường thiệt hại xong cho gia đình bị hại, đại diện hợp pháp của bị hại đề nghị miễn truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc giảm nhẹ hình phạt là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo 01 (một) năm tù là phù hợp. Tuy nhiên, xét nhân thân bị cáo chưa có tiền án, tiền sự. Sau khi gây tai nạn, bị cáo đưa bị hại đến bệnh viện cấp cứu, điều trị, quan tâm chi toàn bộ số tiền điều trị cho bị hại, sau khi bị hại tử vong bị cáo đã lo toàn bộ chi phí mai táng và đưa linh cửu bị hại về quê án táng, điều này thể hiện sự ăn năn, hối cải thật sự của bị cáo. Bị cáo có nơi cư trú rõ ràng, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, có khả năng tự cải tạo do đó không cần bắt bị cáo phải chấp hành hình phạt tù. Việc cho bị cáo hưởng án treo không gây nguy hiểm cho xã hội, không ảnh hưởng đến an ninh, trật tự an toàn xã hội.
Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của bị cáo; chấp nhận đề nghị của Viện kiểm sát, sửa bản án sơ thẩm.
Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ Điều 136 của Bộ luật Tố tụng Hình sự; khoản 2 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án; bị cáo Huỳnh Xuân T không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355 và Điều 357 của Bộ luật Tố tụng Hình sự.
Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Huỳnh Xuân T.
Sửa bản án sơ thẩm.
1. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Huỳnh Xuân T 01 (một) năm tù, cho hưởng án treo, về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Thời gian thử thách là 02 năm tính từ ngày tuyên án phúc thẩm.
Giao bị cáo Huỳnh Xuân T cho Ủy ban nhân dân xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh, giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
2. Về án phí: Căn cứ Điều 136 của Bộ luật Tố tụng Hình sự khoản 2 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án; bị cáo Huỳnh Xuân T không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
4. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
| Nơi nhận: - Phòng GĐKT 1 (TANDCC); - VKSND tỉnh Tây Ninh; - TAND thị xã T; - Công an thị xã T; - Phòng PV 06 Công an tỉnh TN; - Chi cục THADS thị xã T; - Phòng lý lịch STP.TTN; - Phòng KTNV-THA; - Ủy ban nhân dân phường T, thị xã T, TN; - Bị cáo; - Những người tham gia tố tụng khác; - Lưu hồ sơ vụ án. - Lưu tập án HSPT; | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Võ Văn Ngầu |