vanban.org

Bản án 44/2020/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về ngoại tình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Chấp nhận đơn khởi kiện của chị Rơ Lan H’G

Chị Rơ Lan H’G được ly hôn với anh Siu HM Về con chung:

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về ngoại tình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn, tranh chấp nuôi con"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Chấp nhận đơn khởi kiện của chị Rơ Lan H’G
  • Căn cứ chính? Điều 131 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 146 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ P
TỈNH GIA LAI
Bản án số: 44/2020/HNGĐ-ST
Ngày: 08 tháng 9 năm 2020
“V/v: Ly hôn, tranh chấp về

nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ P, TỈNH GIALAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Võ Thị Thanh Thúy

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Trần Văn Hải

2. Bà Trần Thị Lê Na

- Thư ký phiên tòa: Ông Thủy Sơn Phương - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố P, tỉnh Gia Lai.

-Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố P, tỉnh Gia Lai tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Thắng Trinh – Kiểm sát viên

Trong ngày 08 tháng 9 năm 2020 tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố P, tỉnh Gia Lai xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 457/2020/TLST- HNGĐ ngày 16 tháng 7 năm 2020 về việc: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 67/2020/QĐXXST-HNGĐ ngày 17 tháng 8 năm 2020 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn:Chị Rơ Lan H’G, sinh năm 1988

Địa chỉ: Thôn T, xã I, huyện C, tỉnh Gia Lai.

Có mặt.

2. Bị đơn: Anh Siu HM, sinh năm 1986

Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Gia Lai

Vắng mặt có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

Người tham gia tố tụng khác:

Người phiên dịch: Bà Nay H’H – Cán bộ Ủy ban nhân dân xã A, thành phố P, tỉnh Gia Lai. Có mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN

Tại đơn khởi kiện ngày 01/7/2020, bản tự khai ngày 16/7/2020, các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và tại phiên toà, nguyên đơn chị Rơ Lan H’G trình bày:

Chị và anh Siu HM tự nguyện kết hôn, đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã I, huyện C, tỉnh Gia Lai ngày 09/3/2016. Trong thời gian sống với nhau, anh Siu HM không chăm lo kinh tế gia đình mà ăn chơi lêu lỏng với bạn bè, không quan tâm đến vợ và các con, thường xuyên đánh chị. Anh Siu HM không chỉ có quan hệ bất chính với người phụ nữ khác mà nghiêm trọng nhất là anh có hành vi xâm hại tình dục đến cháu ruột của chị. Anh Siu HM đã bị Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai xét xử về tội Hiếp dâm người dưới 16 tuổi và Giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi và hiện đang bị tạm giam chờ xét xử theo trình tự phúc thẩm tại Trại tạm giam Công an tỉnh Gia Lai (Trại tạm giam T20). Chị nhận thấy tình cảm vợ chồng đã đổ vỡ đến mức không thể hàn gắn, không thể tiếp tục chung sống với anh HM nên chị yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với anh Siu HM.

Về con chung: Chị và anh Siu HM có 03 (ba) con chung là Rơ Lan H, sinh ngày 01/7/2007, Rơ Lan T1, sinh ngày 11/12/2012 và Rơ Lan T2, sinh ngày 20/9/2017. Do hoàn cảnh hiện tại của anh HM không thể trực tiếp chăm sóc các con và các cháu đang chung sống với chị nên chị có nguyện vọng nhận chăm sóc, nuôi dưỡng 03 con chung là Rơ Lan H, Rơ Lan T1 và Rơ Lan T2.

Về cấp dưỡng nuôi con: Chị đủ điều kiện để nuôi con nên không yêu cầu anh Siu HM cấp dưỡng nuôi con. Trường hợp anh Siu HM chấp hành án xong thì chị sẽ yêu cầu Tòa án giải quyết vấn đề cấp dưỡng sau.

Về tài sản chung và nghĩa vụ chung: Chị và anh Siu HM tự thỏa thuận về tài sản chung và nghĩa vụ chung phải thực hiện do đó chị không yêu cầu Tòa án giải quyết các vấn đề này.

Tại phiên tòa anh Siu HM vắng mặt nhưng tại Biên bản lấy lời khai của đương sự ngày 29/7/2020, Biên bản hòa giải đoàn tụ không thành, Biên bản phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải trong ngày 14/8/2020 và Đơn đề nghị giải quyết vắng mặt, ý kiến của anh Siu HM như sau:

Anh và chị Rơ Lan H’G có tìm hiểu nhau trước khi kết hôn nhưng thời gian tìm hiểu chỉ khoảng 1 tháng là làm đám cưới theo phong tục địa phương sau đó đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã I, huyện C, tỉnh Gia Lai năm 2016 như chị Rơ Lan H’G đã trình bày. Đối với yêu cầu ly hôn của chị Rơ Lan H’G thì anh không đồng ý ly hôn vì anh vẫn còn tình cảm yêu thương với chị H’G.

Về con chung: Anh và chị Rơ Lan H’G có 03 (ba) con chung là Rơ Lan H, sinh ngày 01/7/2007, Rơ Lan T1, sinh ngày 11/12/2012 và Rơ Lan T2, sinh ngày 20/9/2017. Trường hợp anh và chị H’G đến mức phải ly hôn, anh cũng có nguyện vọng nhận chăm sóc, nuôi dưỡng 03 con chung là Rơ Lan H, Rơ Lan T1 và Rơ Lan T2.

Về tài sản chung và nghĩa vụ chung: Anh không có ý kiến gì về các vấn đề này.

Anh đề nghị Tòa án giải quyết vụ án vắng mặt anh và căn cứ vào các quy định của pháp luật để giải quyết yêu cầu ly hôn và nuôi con của chị Rơ Lan H’G, ngoài ra anh không có ý kiến nào khác.

Tại phiên tòa Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố P có ý kiến như sau:

Về trình tự, thủ tục tố tụng: Việc Tòa án thụ lý yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục tố tụng. Quá trình chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa hôm nay, Thẩm phán, Hội đồng xét xử đã chấp hành đúng quy định của pháp luật về thụ lý vụ án, thẩm quyền giải quyết vụ án, thu thập chứng cứ, thông báo về việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải cũng như trình tự phiên tòa. Đảm bảo thời hạn chuẩn bị xét xử. Nguyên đơn chị Rơ Lan H’G và bị đơn anh Siu HM chấp hành đúng theo quy định của pháp luật tố tụng.

Về nội dung: Đại diện Viện kiểm sát đề nghị chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Rơ Lan H’G về yêu cầu ly hôn với anh Siu HM và giao 03 (ba) cháu Rơ Lan H, Rơ Lan T1 và Rơ Lan T2 cho chị Rơ Lan H’G chăm sóc, nuôi dưỡng. Chị Rơ Lan H’G phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Chị Rơ Lan H’G và anh Siu HM kết hôn trên cơ sở tự nguyện, không thuộc trường hợp cấm kết hôn, đăng ký kết hôn tại tại Ủy ban nhân dân xã I, huyện C, tỉnh Gia Lai ngày 09/3/2016. Hôn nhân của chị H’G và anh HM tuân thủ theo Điều 8, 9 Luật hôn nhân gia đình năm 2014 nên hôn nhân hợp pháp.

Do mâu thuẫn vợ chồng chị Rơ Lan H’G yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với anh Siu HM đồng thời giải quyết về vấn đề con chung, bị đơn anh HM hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Gia Lai thuộc địa giới hành chính của thành phố P nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố P theo loại việc, theo lãnh thổ và theo cấp xét xử.

Tại phiên tòa, bị đơn anh Siu HM vắng mặt nhưng có Đơn đề nghị giải quyết vắng mặt nên căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.

[2] Theo Biên bản xác minh ngày 07/8/2020, chính quyền địa phương thôn T, xã I, huyện C, tỉnh Gia Lai nhưng không xác định được mâu thuẫn vợ chồng giữa chị Rơ Lan H’G và anh Siu HM nhưng hiện anh Siu HM đang bị giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Gia Lai do có hành vi Hiếp dâm người dưới 16 tuổi và Giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi.

Từ nội dung xác nhận của chính quyền địa phương nơi chị H’G và anh HM cư trú cùng với lời trình bày của chị H’G xác định: Mâu thuẫn giữa chị Rơ Lan H’G và anh Siu HM bắt đầu từ sự không hòa hợp về lối sống do khác biệt về tính cách, quan điểm sống nhưng chị H’G vẫn cố gắng chịu đựng vì các con. Tuy nhiên, khi anh HM có hành vi vượt quá luân thường đạo lý đến mức vi phạm pháp luật; nhìn về khía cạnh quan hệ hôn nhân, anh HM đã không chung thủy đối với chị H’G đã đẩy mâu thuẫn vợ chồng lên đỉnh điểm, tình cảm rạn nứt, sự tin tưởng cùng với lòng tự trọng của chị H’G bị tổn thương nghiêm trọng. Vì vậy mặc dù anh Siu HM không đồng ý ly hôn, mong muốn đoàn tụ vì còn tình cảm yêu thương với chị Rơ Lan H’G nhưng tình cảm này chỉ đến từ một bên nên không có căn cứ chấp nhận yêu cầu của anh HM. Như vậy, mối quan hệ hôn nhân giữa chị H’G và anh HM chỉ ràng buộc về mặt pháp lý vì không còn điểm chung về tình cảm vợ chồng, không cùng hướng đến mục tiêu chung là xây dựng gia đình hạnh phúc.

Từ đó có cơ sở khẳng định hôn nhân giữa chị Rơ Lan H’G và anh Siu HM phát sinh mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Rơ Lan H’G, xử cho chị H’G được ly hôn với anh Siu HM.

Về con chung: Chị Rơ Lan H’G và anh Siu HM có 03 (ba) con chung là cháu Rơ Lan H, sinh ngày 01/7/2007, cháu Rơ Lan T1, sinh ngày 11/12/2012 và cháu Rơ Lan T2, sinh ngày 20/9/2017.

Chị Rơ Lan H’G và anh Siu HM đều có nguyện vọng nhận chăm sóc, nuôi dưỡng các con chung Rơ Lan H, Rơ Lan T1 và Rơ Lan T2. Tuy nhiên, xét các cháu còn nhỏ và hiện đang cư trú, sinh sống ổn định cùng chị H’G từ khi anh HM bị tạm giam đến nay. Cháu Rơ Lan H và cháu Rơ Lan T1 đều có nguyện vọng chung sống với chị Rơ Lan H’G. Đồng thời với điều kiện tạm giam như hiện nay, anh HM không có khả năng trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng các con chung.Vì vậy căn cứ theo quy định tại Điều 81 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, việc giao các cháu Rơ Lan H, Rơ Lan T1 và Rơ Lan T2 cho chị Rơ Lan H’G trực tiếp nuôi dưỡng sau khi ly hôn là chính đáng cần chấp nhận.

Về cấp dưỡng nuôi con chung: Chị Rơ Lan H’G đủ điều kiện kinh tế chăm sóc, nuôi dưỡng các con chung là Rơ Lan H, Rơ Lan T1 và Rơ Lan T2 nên không yêu cầu anh Siu HM cấp dưỡng nuôi con do đó Hội đồng xét xử không giải quyết.

Về tài sản chung và nghĩa vụ chung: Chị Rơ Lan H’G không yêu cầu Tòa án giải quyết vì chị và anh Siu HM tự thỏa thuận các vấn đề này; quá trình tham gia tố tụng anh Siu HM không có ý kiền vềtài sản chung và nghĩa vụ chung vợ chồng do đó Hội đồng xét xử không xem xét trong cùng vụ án này.

[3] Về án phí: Chị Rơ Lan H’G phải chịu tiền án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 2 Điều 97, Điều 227, Điều 228, Điều 266, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Áp dụng các Điều 8, 9, 51, 53, 54, 56, 57, 81, 82, 83, 84, 131 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;

Căn cứ Điều 146, Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ quốc Hội ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

1. Về hôn nhân: Chấp nhận đơn khởi kiện của chị Rơ Lan H’G

Chị Rơ Lan H’G được ly hôn với anh Siu HM

2. Về con chung:

Giao 03 (ba) con chung là cháu Rơ Lan H, sinh ngày 01/7/2007, cháu Rơ Lan T1, sinh ngày 11/12/2012 và cháu Rơ Lan T2, sinh ngày 20/9/2017 cho chị Rơ Lan H’G trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi con thành niên hoặc đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

Người không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ tôn trọng quyền của con được sống chung với người trực tiếp nuôi.

Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

Người trực tiếp nuôi con cùng các thành viên trong gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

Theo yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức theo quy định của pháp luật, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc việc cấp dưỡng nuôi con.

3. Về án phí: Chị Rơ Lan H’G phải chịu tiền án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng nhưng được khấu trừ vào 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp trước đây theo biên lai số 0005229 ngày 10 tháng 7 năm 2020 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố P. Chị Rơ Lan H’G đã nộp đủ án phí.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án, nguyên đơn chị Rơ Lan H’G được quyền làm đơn kháng cáo lên Toà án nhân dân tỉnh Gia Lai để yêu cầu xét xử phúc thẩm. Riêng bị đơn anh Siu HM vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án hoặc bản sao bản án được tống đạt hợp lệ.

Cỡ chữ