- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyen Thị B- Nguyen Van Đ"
- Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện về việc ly hôn của chị Nguyễn Thị Bé A đối với anh Nguyễn Văn B. Chị Nguyễn Thị Bé A được ly hôn với anh Nguyễn Văn B.
- Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TRẢNG BÀNG TỈNH TÂY NINH —————— | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 44/2020/HNGĐ-ST. Ngày 27-7-2020. V/v ly hôn, tranh chấp nuôi con chung. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TRẢNG BÀNG, TỈNH TÂY NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hà Như Thủy.
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Dương Thị Mỹ Liên;
Ông Ngô Minh Lý.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Huỳnh Như là Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Thướng- Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 7 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 173/2020/TLST-HNGĐ ngày 13 tháng 5 năm 2020 về “Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung”; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 64/2020/QĐXXST-HNGĐ ngày 16 tháng 7 năm 2020; giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Bé A, sinh năm 1988; Địa chỉ: Ấp C, xã D, thị xã E, tỉnh Tây Ninh. Tạm trú: Khu phố An Thới, phường H, thị xã E, tỉnh F – Có mặt.
- Bị đơn: Anh Nguyễn Văn B, sinh năm 1985; Địa chỉ: Ấp C, xã D, thị xã E, tỉnh F – Vắng mặt có đơn xin.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và quá trình tham gia tố tụng tại Tòa án, nguyên đơn chị Nguyễn Thị Bé A trình bày:
Chị và anh B cưới nhau vào năm 2006, có tổ chức lễ cưới và có đăng ký kết hôn tại UBND xã D, thị xã E vào ngày 19-3-2007. Sau khi kết hôn, vợ chồng thuê nhà trọ sống tại ấp G, xã H, huyện E (nay là khu phố G, phường H, thị xã E, tỉnh F). Đến năm 2008 vợ chồng về sống bên chồng tại ấp C, xã D, thị xã E, tỉnh F. Đến năm 2011, vợ chồng lại ra thuê nhà trọ tại ấp G, xã H, huyện E (nay là khu phố G, phường H, thị xã E, tỉnh F) sống đến khi xảy ra mâu thuẫn. Vợ chồng chung sống hạnh phúc đến tháng 8-2018 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân vợ chồng mất hạnh phúc là do chồng thường xuyên uống rượu về ghen tuông chửi bới và đánh chị. Việc bị anh B đánh, chị không có báo chính quyền địa phương xử lý, nhưng có nhờ gia đình giải quyết thì anh B có năn nỉ và chị bỏ qua nhưng sau đó lại vẫn như cũ. Nên vợ chồng xảy ra cãi vã nhau, anh B bỏ về bên nhà mẹ ruột sống và vợ chồng ly thân nhau đến nay. Nay chị yêu cầu ly hôn với anh Nguyễn Văn B.
Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung tên Nguyễn Tuấn J, sinh ngày 04-8-2008, hiện cháu J đang sống cùng anh B. Sau khi ly hôn, tùy theo nguyện vọng của con, theo ai người đó nuôi, không ai phải cấp dưỡng nuôi con. Tài sản chung, nợ chung: Không có, nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Theo các lời khai và trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn anh Nguyễn Văn B trình bày: Thống nhất lời trình bày của chị A về ngày tháng chung sống, con chung, tài sản chung, nợ chung và thời gian ly thân là đúng. Về nguyên nhân mâu thuẫn do chị A thường xuyên gọi điện qua lại với một người đàn ông khác, anh không đồng ý nên vợ chồng cãi vã nhau. Sau khi ly thân vợ chồng có hòa giải nhưng không thành. Nay anh đồng ý ly hôn với chị A. Về con chung: Anh yêu cầu được nuôi con, anh không yêu cầu chị A cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung, nợ chung: Không có, nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh:
1. Việc tuân theo pháp luật tố tụng: Tòa án thụ lý giải quyết vụ án đúng thẩm quyền. Thẩm phán chấp hành đúng quy định của pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án; Hội đồng xét xử tiến hành xét xử đúng trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự và Thư ký phiên tòa thực hiện đúng nhiệm vụ và quyền hạn; nguyên đơn, bị đơn đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của đương sự theo quy định tại Điều 70, 71, 72 Bộ luật Tố tụng Dân sự.
2. Việc giải quyết vụ án: Căn cứ vào Điều 56, 81, 82 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 đề nghị Hội đồng xét xử Tòa án nhân dân thị xã Trảng Bàng tuyên xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện về việc ly hôn của chị A đối với anh B.
- Về con chung: Giao cháu Nguyễn Tuấn J, sinh ngày 04-8-2008 cho anh B tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục. Ghi nhận anh B không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chị A.
- Về tài sản chung và nợ chung: Các đương sự không yêu cầu nên không đặt ra giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, xét thấy:
Về tố tụng: Anh Nguyễn Văn B vắng mặt có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 228 của Bộ luật Tố tụng Dân sự, tiến hành xét xử vụ án.
Về hôn nhân: Chị A và anh B tự nguyện chung sống với nhau vào năm 2006, có tổ chức lễ cưới và có đăng ký kết hôn tại UBND xã D, thị xã E vào ngày 19-3-2007. Vợ chồng sống hạnh phúc đến tháng 8-2018 thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn do trong quá trình chung sống anh chị không tin tưởng nhau về mặt tình cảm, từ đó xảy ra cãi vã nhau, gây mất hạnh phúc gia đình. Hiện cả chị A và anh B đều có mong muốn được ly hôn. Từ đó cho thấy, mâu thuẫn giữa chị A và anh B đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được và cả hai người đã không còn ý muốn đoàn tụ chung sống. Nhận thấy có căn cứ chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị A đối với anh B theo quy định tại khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về con chung: Cháu Nguyễn Tuấn J, sinh ngày 04-8-2008; xét thấy cháu J là bé trai, hiện nay đang sống cùng anh B. Hiện cháu đã trên 07 tuổi, qua làm việc cháu có nguyện vọng được sống cùng cha; anh B cũng có yêu cầu được nuôi con. Do đó, Hội đồng xét xử nhận thấy cần giao anh B được quyền tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cháu J là phù hợp với quy định tại Điều 81, 82 Luật Hôn nhân và Gia đình. Ghi nhận anh B không yêu cầu chị A cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu nên không đặt ra giải quyết.
Như phân tích trên thì đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Trảng Bàng về quan điểm giải quyết vụ án là có cơ sở chấp nhận.
Án phí: Chị A phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về việc ly hôn theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 56, Điều 81, 82, của Luật Hôn nhân và Gia đình; Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện về việc ly hôn của chị Nguyễn Thị Bé A đối với anh Nguyễn Văn B. Chị Nguyễn Thị Bé A được ly hôn với anh Nguyễn Văn B.
2. Về con chung:
- Giao cháu Nguyễn Tuấn J, sinh ngày 04-8-2008 cho anh B được quyền tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục.
- Chị A không phải cấp dưỡng nuôi con do anh B không yêu cầu.
- Chị A có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
3. Về tài sản chung, nợ chung: Không đặt ra giải quyết.
4. Án phí: Chị Nguyễn Thị Bé A phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về việc ly hôn là 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0018096 ngày 13 tháng 5 năm 2020 của Chi cục thi hành án dân sự thị xã Trảng Bàng; Chị A đã nộp đủ án phí.
5. Quyền kháng cáo: Chị A được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Anh B được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
| Nơi nhận: - Đương sự; - TAND tỉnh Tây Ninh; - VKSND thị xã Trảng Bàng; - Chi cục THADS thị xã Trảng Bàng; - UBND xã Đôn Thuận; - Lưu hồ sơ vụ án. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Hà Như Thủy THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |