- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Chị Đỗ Thị N tranh chấp ly hôn với ông cao Văn H"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Đỗ Thị N với ông Cao Văn H. Bà N được ly hôn với ông H.
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GÒ DẦU TỈNH TÂY NINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 44/2020/HNGĐ-ST Ngày: 16-6-2020 V/v tranh chấp “Ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GÒ DẦU, TỈNH TÂY NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Vui.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Trần Thị Đào
2. Ông Nguyễn Văn Thản
- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Đình Văn – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Gò Dầu, tỉnh Tây Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Gò Dầu tham gia phiên tòa: Ông Trần Anh Minh - Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 6 năm 2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Gò Dầu xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 23/2020/TLST-HNGĐ ngày 09 tháng 01 năm 2020 về tranh chấp “Ly hôn”, theo Quyết định hoãn phiên tòa số: 16/2020/QĐST-HN ngày 29 tháng 5 năm 2020, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Đỗ Thị N, sinh năm 1972.
Địa chỉ: Tổ 26, ấp X, xã T, huyện G, tỉnh Tây Ninh.
- Bị đơn: Ông Cao Văn H, sinh năm 1952.
Địa chỉ: Tổ 24, ấp T1, xã T, huyện G, tỉnh Tây Ninh.
Tất cả vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Nguyên đơn bà Đỗ Thị N trình bày: Bà và ông H tự nguyện chung sống với nhau vào năm 2007, không tổ chức lễ cưới, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Thanh Phước, huyện Gò Dầu. Vợ chồng chung sống chưa có con chung, tài sản chung và nợ chung không có.
Trong cuộc sống hôn nhân phát sinh nhiều mâu thuẫn, do tính tình không phù hợp, thường xuyên cải vã, hơn nữa bà và ông H đều có con riêng nhưng cả hai đều không dung hòa được mối quan hệ tình cãm gia đình với nhau dẫn đến giữa bà với con riêng của ông H và giữa ông H với con riêng của bà mâu thuẫn với nhau, thậm chí con riêng ông H chửi bà rất nhiều lần và xua đuổi không cho bà vào nhà. Từ đó vợ chồng bà sống ly thân từ đầu năm 2019 cho đến nay, trong khoảng thời gian ly thân bà và ông H cũng có gặp nhau vài lần để bàn bạc hàn gắn gia đình nhưng không được, hiện tại mỗi người đều có cuộc sống riêng, không ai quan tâm chăm sóc đến ai. Do đó bà yêu cầu được ly hôn.
Về con chung: Không.
Về tài sản chung và nợ chung: Ông bà tự thỏa thuận, không yêu cầu giải quyết.
- Bị đơn Ông Cao Văn H trình bày: Ông H đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng ông vẫn vắng mặt không có lý do và cũng không có văn bản ghi ý kiến của mình đối với yêu cầu của bà N.
Kiểm sát viên phát biểu ý kiến: Việc tuân theo pháp luật tố tụng từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký và những người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng theo quy định pháp luật tố tụng dân sự. Về nội dung vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà N; con chung, không có; tài sản và nợ chung, bà N không yêu cầu nên không xem xét giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, ý kiến của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng: Bị đơn ông Cao Văn H đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt là phù hợp với khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về hôn nhân: Bà N và ông H chung sống với nhau vào năm 2007, có đăng ký kết hôn nên được pháp luật công nhận là hôn nhân hợp pháp, được pháp luật bảo vệ. Bà N yêu cầu ly hôn, do cả hai không cùng quan điểm sống, hơn nữa bà N và ông H đều không dung hòa được mối quan hệ tình cãm gia đình với nhau nên cả hai đều có mâu thuẫn với con riêng và ông bà sống ly thân từ đầu năm 2019 đến nay. Xét thấy, ông H đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng ông vẫn vắng mặt và không cung cấp cho Tòa án văn bản ghi ý kiến của mình, chứng tỏ ông H không thể hiện thiện chí đoàn tụ và trong thời gian ly thân mặc dù ông bà có gặp nhau tìm cách hàn gắn gia đình nhưng không được, mạnh ai nấy sống, không ai quan tâm chăm sóc đến ai. Từ những nhận định trên, có đủ căn cứ cho rằng mâu thuẫn giữa bà N và ông H lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên Hội đồng xét xử cần chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà N là phù hợp với quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.
Về con chung: Không.
Về tài sản chung và nợ chung: Bà N không yêu cầu nên không xem xét giải quyết. Trường hợp sau này ông H có tranh chấp sẽ giải quyết bằng vụ án khác.
Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về án phí: Bà N phải chịu án phí theo quy định tại khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30-12-2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình;
Căn cứ khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30-12-2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,
1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Đỗ Thị N với ông Cao Văn H. Bà N được ly hôn với ông H.
2. Về con chung: Không.
3. Về tài sản chung và nợ chung: Bà N không yêu cầu giải quyết.
4. Về án phí: Bà N phải chịu 300.000 đồng tiền án phí sơ thẩm hôn nhân gia đình. Khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng theo biên lai thu số 0000054 ngày 09/01/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Gò Dầu. Ghi nhận Bà N đã nộp đủ tiền án phí.
Các đương sự có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết tại Ủy ban nhân xã và nơi cư trú.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Tây Ninh; - VKSND tỉnh Tây Ninh; - VKSND huyện Gò Dầu; - Chi cục THADS huyện Gò Dầu; - UBND xã Thanh Phước; - Các đương sự; - Lưu. | T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Vui |