vanban.org

Bản án 44/2020/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM VKSND H. Chợ Mới; Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Chị Võ Thị Thanh T yêu cầu ly hôn với anh Võ Lâm E"
  • Tòa quyết gì? Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
  • Căn cứ chính? Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CHỢ MỚI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH AN GIANG
Bản án số: 44/2020/HNGĐ-ST
Ngày: 05-5-2020
V/v tranh chấp ly hôn, nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI, TỈNH AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Hùng.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Tô Ngọc Liêm;

2. Ông Phan Tấn Tài

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Tấn Kiệt, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Không.

Ngày 05 tháng 5 năm 2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 73/2020/TLST-HNGĐ ngày 17 tháng 01 năm 2020 về tranh chấp “ly hôn, nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 104/2020/QĐXX-ST ngày 26 tháng 3 năm 2020, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Võ Thị Thanh T, sinh năm 1981; địa chỉ: số 99, ấp T, xã M, huyện C, tỉnh An Giang (Có mặt).

2. Bị đơn: Anh Võ Lâm E, sinh năm 1977; địa chỉ: số 99, ấp T, xã M, huyện C, tỉnh An Giang (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện, tờ tự khai và các biên bản hòa giải nguyên đơn chị Võ Thị Thanh T trình bày: Chị và anh Võ Lâm E do mai mối, tổ chức lễ cưới và chung sống với nhau vào năm 2000, có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật. Vợ chồng sống hạnh phúc đến năm 2017 thì xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân do anh E thường hay uống rượu, không quan tâm gia đình nên vợ chồng thường hay cãi nhau dẫn đến mâu thuẫn ngày càng nhiều hơn. Đến tháng 4/2017 thì vợ chồng mâu thuẫn trầm trọng nên chị có nộp đơn khởi kiện ly hôn với anh E tại Tòa án. Sau đó, Tòa án hòa giải, động viên và anh E cam kết sữa đổi tính tình nên chị đã rút đơn khởi kiện, nhưng sau khi về nhà thì anh E không sữa đổi vẫn thường hay uống rượu, không quan tâm gia đình nên vợ chồng thường hay cãi nhau dẫn mâu thuẫn ngày càng trầm trọng hơn. Tuy, vợ chồng sống chung nhà, nhưng đã ly thân hơn 01 năm đến nay. Nay, nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, chị yêu cầu ly hôn với anh Võ Lâm E. Về quan hệ con chung: Trong thời gian chung sống, vợ chồng có 01 con chung tên Võ Thị Mộng K, sinh ngày 28/7/2003 (hiện do chị T chăm sóc, nuôi dưỡng). Khi ly hôn, chị T yêu cầu được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng con chung, không yêu cầu anh E cấp dưỡng nuôi con chung. Về quan hệ tài sản chung: Vợ chồng tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Về quan hệ nợ chung: Không có. Tại phiên tòa, chị T giữ nguyên yêu cầu khởi kiện. Trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn anh Võ Lâm E trình bày: Anh thống nhất theo lời trình bày của vợ về thời gian tổ chức lễ cưới, thời gian chung sống và thời gian không còn sống chung, anh thừa nhận có uống rượu, vợ chồng có cự cãi, nhưng không lớn, chưa đến mức phải ly hôn. Nên, đối với yêu cầu ly hôn của vợ, anh không đồng ý, vì còn thương vợ, yêu cầu được hàn gắn. Về quan hệ con chung: Trong thời gian chung sống, vợ chồng có 01 con chung tên Võ Thị Mộng K, sinh ngày 28/7/2003 (hiện do chị T chăm sóc, nuôi dưỡng). Trường hợp, Tòa án cho vợ chồng ly hôn thì anh yêu cầu được nuôi con, không yêu cầu chị T cấp dưỡng nuôi con chung. Về quan hệ tài sản chung: Trường hợp, Tòa án cho vợ chồng ly hôn thì vợ chồng tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Về quan hệ nợ chung: Không có.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định: [1] Về thủ tục tố tụng: [1.1] Chị Võ Thị Thanh T yêu cầu ly hôn với anh Võ Lâm E, anh E có nơi cư trú ấp T, xã M, huyện C, tỉnh An Giang nên Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại Điều 28, Điều 35 và Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. [1.2] Anh Võ Lâm E đã được triệu tập hợp lệ tham gia phiên tòa lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự. [2] Về nội dung: [2.1] Về quan hệ hôn nhân: Chị T và anh E có đăng ký kết hôn theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình và được Ủy ban nhân dân xã Mỹ Hiệp, huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang cấp chứng nhận Giấy chứng nhận kết hôn số 193, ngày 10 tháng 9 năm 2003 nên quan hệ hôn nhân giữa hai người được pháp luật thừa nhận và bảo vệ. Theo chị T thì nguyên nhân chính dẫn đến tình cảm vợ chồng ngày mâu thuẫn trầm trọng hơn là do anh E thường hay uống rượu, không quan tâm gia đình, anh E thừa nhận có uống rượu, vợ chồng có cự cãi nhau, nhưng chưa đến mức phải ly hôn, anh yêu cầu được hàn gắn, vì còn thương vợ. Hội đồng xét xử xét thấy, căn cứ theo lời trình bày giữa các bên trong quá trình giải quyết cũng như tại phiên tòa hôm nay, thì thấy mâu thuẫn giữa chị T và anh E đã diễn ra trong thời gian dài nguyên nhân chủ yếu xuất phát từ việc anh E thường hay uống rượu, không quan tâm gia đình dẫn đến mâu thuẫn ngày nhiều hơn, không thể hàn gắn được nên chị T đã nộp đơn yêu cầu ly hôn với anh E vào tháng 4/2017, sau đó anh E cam kết sữa đổi tính tình nên vợ chồng đã hàn gắn và chung sống lại với nhau. Đến cách nay, khoảng 01 năm thì anh E lại tiếp tục uống rượu, không quan tâm gia đình dẫn đến tình cảm vợ chồng mâu thuẫn nhiều hơn và vợ chồng đã ly thân khoảng 01 năm đến nay. Bên cạnh đó, Tòa án đã tạo điều kiện để anh, chị hàn gắn tình cảm vợ chồng nhiều lần, nhưng đến nay anh E vẫn không hàn gắn được. Tại phiên tòa, chị T vẫn kiên quyết ly hôn, điều này thể hiện tình cảm vợ chồng giữa chị T và anh E đã mâu thuẫn trầm trọng không thể hàn gắn, mục đích hôn nhân không đạt được, đời sống chung không thể kéo dài, nếu chung sống với nhau cũng không hạnh phúc. Căn cứ Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị T.

Về quan hệ con chung: Chị T, anh E xác định, trong thời gian chung sống, vợ chồng có 01 con chung tên Võ Thị Mộng Kiều, sinh ngày 28/7/2003 (hiện do chị T chăm sóc, nuôi dưỡng). Xét thấy, từ khi vợ chồng không còn chung sống với nhau cháu K do chị T chăm sóc, nuôi dưỡng nên tâm tư, tình cảm của cháu gắn liền với người nuôi dưỡng, nếu thay đổi sẽ làm ảnh hưởng đến tâm lý và sự phát triển bình thường cháu và cháu K cũng có nguyện vọng được sống cùng với mẹ (chị T). Tại phiên tòa, chị T xác định hiện cháu vẫn phát triển bình thường và được đi học. Hội đồng xét xử xét thấy, xuất phát từ lợi ích mọi mặt của cháu, do đó cần phải tạo điều kiện cho sự phát triển về thể chất, bảo đảm việc học hành và các điều kiện cho sự phát triển tốt về tinh thần. Căn cứ khoản 2 Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử thấy cần phải giao cháu K cho chị T tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng là phù hợp với pháp luật và nguyện vọng của cháu. Đối với cấp dưỡng nuôi con chung: Do chị T không yêu cầu, nên Hội đồng xét xử không đề cập đến.

Về quan hệ tài sản chung: Chị T, anh E xác định, vợ chồng tự thỏa thuận, nên Hội đồng xét xử không đề cập đến.

Về quan hệ nợ chung: Chị T, anh E trình bày không có nên Hội đồng xét xử không đề cập đến.

Án phí hôn nhân sơ thẩm: Đương sự phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ:

- Các Điều 28, 35, 39, 147, 227 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự.

- Các Điều 56, 81, 82, 83 và 84 Luật Hôn nhân và gia đình;

- Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Võ Thị Thanh T đối với anh Võ Lâm E. 1) Về quan hệ hôn nhân: Chị Võ Thị Thanh T được ly hôn với anh Võ Lâm E. Giấy chứng nhận kết hôn số 193, ngày 10 tháng 9 năm 2003 do Ủy ban nhân dân xã M, huyện C, tỉnh An Giang cấp cho anh Võ Lâm E và chị Võ Thị Thanh T không còn giá trị pháp lý. 2) Về quan hệ con chung: Chị Võ Thị Thanh T được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng con chung tên Võ Thị Mộng K, sinh ngày 28/7/2003. Anh Võ Lâm E không phải cấp dưỡng nuôi con. Chị Võ Thị Thanh T cùng các thành viên gia đình (nếu có) không được cản trở anh Võ Lâm E trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con. Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của người thân thích của con, cơ quan có thẩm quyền, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, thay đổi mức cấp dưỡng nuôi con chung dựa trên các căn cứ do pháp luật quy định. 3) Về quan hệ tài sản chung: Vợ chồng tự thỏa thuận. 4) Về quan hệ nợ chung: Không có. Ghi nhận việc chị Võ Thị Thanh T, anh Võ Lâm E xác định không có nợ chung trong thời kỳ hôn nhân, nhưng sau khi quyết định ly hôn có hiệu lực pháp luật, nếu có người khởi kiện xuất trình chứng cứ chứng minh nợ chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân, thì chị T và anh E phải liên đới chịu trách nhiệm với tư cách đồng bị đơn trong vụ án dân sự khác. 5) Về án phí: Chị Võ Thị Thanh T phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm là 300.000đồng (Bằng chữ: Ba trăm nghìn đồng), được khấu trừ vào số tiền 300.000đồng (Bằng chữ: Ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0007915 ngày 17/01/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang. Chị T đã nộp đủ. 6) Về quyền kháng cáo: Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự có quyền kháng cáo để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh An Giang xét xử phúc thẩm. Đương sự vắng mặt thì thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ