- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "vay tài sản"
- Tòa quyết gì? Buộc Phan Ngọc T, Phạm Thành X, Phạm Thành N, Phạm Ngọc Trâm A liên đới thực hiện nghĩa vụ trả cho QTD ND LVg vốn vay 100.
- Căn cứ chính? Điều 102 Bộ luật Dân sự; Điều 103 Bộ luật Dân sự; Điều 26 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LAI VUNG TỈNH ĐỒNG THÁP | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 44/2020/DS-ST Ngày: 19-8-2020. V/v tranh chấp về hợp đồng dân sự vay tài sản. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LAI VUNG, TỈNH ĐỒNG THÁP
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Minh Tùng.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Phát Triển;
Ông Nguyễn Chí Công.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Chí Dũng là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Cẩm Dang - Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 8 năm 2020 tại phòng xử án Tòa án nhân dân huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 71/2020/TLST-DS, ngày 06/3/2020, “V/v tranh chấp về hợp đồng dân sự vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 51/2020/QĐXXST-DS, ngày 06 tháng 7 năm 2020, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: QTD ND LVg.
Người đại diện theo ủy quyền của QTD ND LVg là: Nguyễn Thanh L - Chức vụ: Phó giám đốc Quỹ tín dung nhân dân Lai Vung. (Có mặt tại phiên tòa)
Cùng địa chỉ: LA K4, thị trấn LVg, huyện LVg, tỉnh Đồng Tháp (Văn bản ủy quyền ngày 10/02/2020).
- Bị đơn: Phan Ngọc T - Sinh năm: 1975.
Địa chỉ: CDC K4, thị trấn LVg, huyện LVg, tỉnh Đồng Tháp. (Vắng mặt tại phiên tòa)
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Phạm Thành X - Sinh năm: 1970;
Phạm Thành N - Sinh năm: 1996;
Phạm Ngọc Trâm A - Sinh năm: 2005.
Người đại diện theo pháp luật của Phạm Ngọc Trâm A là:
Phạm Thành X - Sinh năm: 1970;
Phan Ngọc T - Sinh năm: 1975.
Cùng địa chỉ: CDC K4, thị trấn LVg, huyện LVg, tỉnh Đồng Tháp. (Cùng vắng mặt tại phiên tòa)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Trong đơn khởi kiện ngày 10/02/2020 (Bổ sung ngày 14/4/2020); Biên bản về kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ; Biên bản hòa giải và tại phiên tòa người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn QTD ND LVg trình bày:
Vào ngày 30/8/2016 Phạm Thành X tự tay ký tên vào hợp đồng tín dụng, con Phạm Thành N là người thừa kế, Phan Ngọc T tự tay ký tên vào hợp đồng thế chấp tài sản, người thừa kế là Phạm Thành X, mục đích vay để xây nhà tại địa chỉ: CDC K4, thị trấn LVg, huyện LVg, tỉnh Đồng Tháp. Quá hạn vay Phạm Thành X không thanh toán. Ngày 14/12/2018 QTD ND LVg cho Phan Ngọc T ký tên vào thủ tục vay lại trong hợp đồng tín dụng và hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất để đáo hạn (không phải vay mới, không có nhận tiền mặt), đến nay chưa thanh toán. Do đó, QTD ND LVg yêu cầu Phan Ngọc T, Phạm Thành X, Phạm Thành N, Phạm Ngọc Trâm A liên đới trả cho QTD ND LVg vốn vay 100.000.000 đồng, lãi 23.338.330 đồng (Tạm tính đến ngày 19/8/2020). Cộng chung vốn, lãi là 123.338.330 đồng và tiếp tục trả lãi theo mức lãi suất đã thỏa thuận trong Hợp đồng tín dụng số: 568/2018/HĐTD ngày 14/12/2018, giữa QTD ND LVg với Phan Ngọc T kể từ ngày 20/8/2020 cho đến khi Phan Ngọc T, Phạm Thành X, Phạm Thành N, Phạm Ngọc Trâm A trả nợ xong thì QTD ND LVg tự nguyện thực hiện nghĩa vụ trả lại cho Phan Ngọc T, Phạm Thành X, Phạm Thành N, Phạm Ngọc Trâm A bản chính Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất, do bà Phan Ngọc T đứng tên người sử dụng đất, số bìa BS 271783, số vào sổ cấp GCN: CH03120 được Ủy ban nhân dân huyện Lai Vung cấp ngày 30/6/2014.
Trường hợp Phan Ngọc T, Phạm Thành X, Phạm Thành N, Phạm Ngọc Trâm A không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ thanh toán đã nêu trên thì Phan Ngọc T, Phạm Thành X, Phạm Thành N, Phạm Ngọc Trâm A phải thực hiện nghĩa vụ bảo đảm theo Hợp đồng thế chấp tài sản số: 568/2018/HĐTC đã được Ủy ban nhân dân thị trấn Lai Vung, huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp chứng thực cùng ngày 14/12/2018.
- Trong biên bản về kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ; Biên bản hòa giải và biên bản lấy lời khai đương sự bị đơn Phan Ngọc T trình bày:
Phan Ngọc T thừa nhận vào ngày 30/8/2016 Phạm Thành X tự tay ký tên vào hợp đồng tín dụng, con Phạm Thành N là người thừa kế, Phan Ngọc T tự tay ký tên vào hợp đồng thế chấp tài sản, người thừa kế là Phạm Thành X, mục đích vay để xây nhà tại địa chỉ: CDC K4, thị trấn LVg, huyện LVg, tỉnh Đồng Tháp. Quá hạn vay Phạm Thành X không thanh toán. Ngày 14/12/2018 QTD ND LVg cho Phan Ngọc T ký tên vào thủ tục vay lại trong hợp đồng tín dụng và hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất để đáo hạn (không phải vay mới, không có nhận tiền mặt), đến nay chưa thanh toán. Do đó, Phan Ngọc T tự nguyện liên đới với Phạm Thành X, Phạm Thành N, Phạm Ngọc Trâm A thực hiện nghĩa vụ trả cho QTD ND LVg vốn vay 100.000.000 đồng, lãi 23.338.330 đồng (Tạm tính đến ngày 19/8/2020). Cộng chung vốn, lãi là 123.338.330 đồng và tiếp tục trả lãi theo mức lãi suất đã thỏa thuận trong Hợp đồng tín dụng số: 568/2018/HĐTD ngày 14/12/2018, giữa QTD ND LVg với Phan Ngọc T kể từ ngày 20/8/2020 cho đến khi Phan Ngọc T, Phạm Thành X, Phạm Thành N, Phạm Ngọc Trâm A trả nợ xong thì Phan Ngọc T đồng ý nhận lại bản chính Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất, do bà Phan Ngọc T đứng tên người sử dụng đất, số bìa BS 271783, số vào sổ cấp GCN: CH03120 được Ủy ban nhân dân huyện Lai Vung cấp ngày 30/6/2014 do QTD ND LVg trả.
Trường hợp Phan Ngọc T, Phạm Thành X, Phạm Thành N, Phạm Ngọc Trâm A không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ thanh toán đã nêu trên thì Phan Ngọc T tự nguyện liên đới với Phạm Thành X, Phạm Thành N, Phạm Ngọc Trâm A thực hiện nghĩa vụ bảo đảm theo Hợp đồng thế chấp tài sản số: 568/2018/HĐTC đã được Ủy ban nhân dân thị trấn Lai Vung, huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp chứng thực cùng ngày 14/12/2018.
- Trong biên bản lấy lời khai Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Phạm Thành X trình bày:
Phạm Thành X và Phan Ngọc T là vợ chồng. Hiện nay Phạm Thành X và Phan Ngọc T đã ly hôn năm 2019, khi ly hôn Phạm Thành X và Phan Ngọc T chỉ yêu cầu Tòa án giải quyết về hôn nhân, con chung và cấp dưỡng. Riêng đối với tài sản chung và nợ chung không yêu cầu Tòa án giải quyết, nhưng vợ chồng có tự thỏa thuận là cả hai cùng có trách nhiệm trả nợ. Khi Phan Ngọc T ký tên vay tiền Phạm Thành X biết việc vay tiền nhằm mục đích xây dựng ngôi nhà tại: CDC K4, thị trấn LVg, huyện LVg, tỉnh Đồng Tháp mà Phạm Thành X đang quản lý, sử dụng. Khi vay Phan Ngọc T đã thế chấp bản chính giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, mà tài sản thế chấp là đất do vợ chồng nhận chuyển nhượng từ mẹ ruột của Phan Ngọc T, nhưng để đóng lệ phí trước bạ thấp nên làm thủ tục mẹ tặng cho con, còn nhà vợ chồng vay tiền của QTD ND LVg để xây dựng. Do đó, Phạm Thành X tự nguyện liên đới với Phan Ngọc T, Phạm Thành N, Phạm Ngọc Trâm A thực hiện nghĩa vụ trả cho QTD ND LVg vốn vay 100.000.000 đồng, lãi 23.338.330 đồng (Tạm tính đến ngày 19/8/2020). Cộng chung vốn, lãi là 123.338.330 đồng và tiếp tục trả lãi theo mức lãi suất đã thỏa thuận trong Hợp đồng tín dụng số: 568/2018/HĐTD ngày 14/12/2018, giữa QTD ND LVg với Phan Ngọc T kể từ ngày 20/8/2020 cho đến khi Phan Ngọc T, Phạm Thành X, Phạm Thành N, Phạm Ngọc Trâm A trả nợ xong.
Trường hợp Phan Ngọc T, Phạm Thành X, Phạm Thành N, Phạm Ngọc Trâm A không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ thanh toán đã nêu trên thì Phạm Thành X tự nguyện liên đới với Phan Ngọc T, Phạm Thành N, Phạm Ngọc Trâm A thực hiện nghĩa vụ bảo đảm theo Hợp đồng thế chấp tài sản số: 568/2018/HĐTC đã được Ủy ban nhân dân thị trấn Lai Vung, huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp chứng thực cùng ngày 14/12/2018.
- Trong biên bản lấy lời khai đương sự người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Phạm Ngọc Trâm A trình bày:
Phạm Ngọc Trâm A đang học lớp 9 tháng 7/2020 thi lên lớp 10, viết và đọc chữ được. Trước đây Phạm Ngọc Trâm A không biết, nhưng sau này Phạm Ngọc Trâm A mới biết cha Phạm Thành X, mẹ Phan Ngọc T vay tiền là để xây nhà đang ở tại số: CDC K4, thị trấn LVg, huyện LVg, tỉnh Đồng Tháp trên đất mà cha mẹ Phạm Ngọc Trâm A mua và đã thế chấp cho QTD ND LVg. Do đó, Phạm Ngọc Trâm A đồng ý cùng với Phạm Thành X, Phan Ngọc T, Phạm Thành N liên đới trả nợ cho QTD ND LVg và liên đới thực hiện nghĩa vụ theo hợp đồng thế chấp. Ngoài ra Phạm Ngọc Trâm A không còn yêu cầu và trình bày gì thêm khác nữa.
- Trong tờ tường trình ngày 17/7/2020 người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Phạm Thành N trình bày:
Trước đây cha Phạm Thành N là Phạm Thành X có ký hợp đồng vay tại QTD ND LVg và Phạm Thành N là người thừa kế còn mẹ Phan Ngọc T thì ký hợp đồng thế chấp cha Phạm Thành N là người thừa kế vay tiền để cất nhà ở hiện nay tại: CDC K4, thị trấn LVg, huyện LVg, tỉnh Đồng Tháp do không có tiền trả nên mẹ Phan Ngọc T mới ký tên vào thủ tục mới để đáo hạn tại QTD ND LVg. Do đó, nay Phạm Thành N đồng ý cùng với Phan Ngọc T, Phạm Thành X, Phạm Ngọc Trâm A liên đới thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho QTD ND LVg và liên đới thực hiện nghĩa vụ theo hợp đồng thế chấp. Ngoài ra Phạm Thành N không yêu cầu và trình bày gì thêm.
- Bị đơn Phan Ngọc T; Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Phạm Thành X, Phạm Thành N, Phạm Ngọc Trâm A đã được Tòa án triệu tập hợp lệ để tham gia về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải cũng như để tham gia phiên tòa theo giấy triệu tập của Tòa án đến lần thứ hai mà vẫn cố tình vắng mặt, không có lý do chính đáng. Nên Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt đối với Phan Ngọc T, Phạm Thành X, Phạm Thành N, Phạm Ngọc Trâm A theo quy định tại Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự và người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn cũng đồng ý xét xử vắng mặt Phan Ngọc T, Phạm Thành X, Phạm Thành N, Phạm Ngọc Trâm A tại phiên tòa.
Phát biểu của Kiểm sát viên kiểm sát việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử, Thẩm phán, Thư ký Tòa án và những người tham gia phiên tòa chấp hành đúng theo các quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Tuy nhiên đối với bị đơn Phan Ngọc T, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Phạm Thành X, Phạm Thành N, Phạm Ngọc Trâm A không thực hiện đúng theo thông báo, giấy triệu tập của Tòa án và Thẩm phán vi phạm về thời hạn thông báo nộp tạm ứng án phí. Nên Kiểm sát viên đề nghị bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và Thẩm phán cần lưu ý nhằm đảm bảo cho việc chấp hành đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự và để góp phần cho việc giải quyết vụ án được nhanh chóng, đúng pháp luật, đồng thời Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử tuyên xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn QTD ND LVg. Buộc Phan Ngọc T, Phạm Thành X, Phạm Thành N, Phạm Ngọc Trâm A liên đới trả cho QTD ND LVg vốn vay 100.000.000 đồng, lãi 23.338.330 đồng (Tạm tính đến ngày 19/8/2020) và tuyên bố Hợp đồng thế chấp tài sản số: 568/2018/HĐTC đã được Ủy ban nhân dân thị trấn Lai Vung, huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp chứng thực cùng ngày 14/12/2018 có hiệu lực.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] QTD ND LVg yêu cầu Phan Ngọc T, Phạm Thành X, Phạm Thành N, Phạm Ngọc Trâm A liên đới trả cho QTD ND LVg vốn vay 100.000.000 đồng, lãi 23.338.330 đồng (Tạm tính đến ngày 19/8/2020). Cộng chung vốn, lãi là 123.338.330 đồng và tiếp tục trả lãi theo mức lãi suất đã thỏa thuận trong Hợp đồng tín dụng số: 568/2018/HĐTD ngày 14/12/2018, giữa QTD ND LVg với Phan Ngọc T kể từ ngày 20/8/2020 cho đến khi Phan Ngọc T, Phạm Thành X, Phạm Thành N, Phạm Ngọc Trâm A trả nợ xong. Yêu cầu của QTD ND LVg được Phan Ngọc T, Phạm Thành X, Phạm Thành N, Phạm Ngọc Trâm A đồng ý, sự thỏa thuận này của các đương sự là hoàn toàn tự nguyện, không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội và đề nghị của Kiểm sát viên buộc Phan Ngọc T, Phạm Thành X, Phạm Thành N, Phạm Ngọc Trâm A liên đới trả cho QTD ND LVg vốn vay 100.000.000 đồng, lãi 23.338.330 đồng (Tạm tính đến ngày 19/8/2020) và tiếp tục trả lãi cho đến khi trả nợ xong là có căn cứ, nên được chấp nhận phù hợp với Điều 463 của Bộ luật dân sự.
Tại Điều 463 của Bộ luật dân sự có ghi:
“Hợp đồng vay tài sản là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên cho vay giao tài sản cho bên vay; khi đến hạn trả, bên vay phải hoàn trả cho bên cho vay tài sản cùng loại theo đúng số lượng, chất lượng và chỉ phải trả lãi nếu có thỏa thuận khác hoặc pháp luật có quy định”.
[2] Hợp đồng thế chấp tài sản số: 568/2018/HĐTC đã được Ủy ban nhân dân thị trấn Lai Vung, huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp chứng thực cùng ngày 14/12/2018, mà tài sản thế chấp đó là quyền sử dụng với diện tích đất 90m2, thửa đất số 175, tờ bản đồ số 31, mục đích sử dụng đất: Đất ở tại đô thị, địa chỉ thửa đất tại: thị trấn Lai Vung, huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp do bà Phan Ngọc T đứng tên quyền sử dụng đất, nhưng khi ký kết hợp đồng thế chấp bằng quyền sử dụng đất chỉ có Phan Ngọc T ký vào hợp đồng, còn Pham Thành Xuân, Phạm Thành N, Phạm Ngọc Trâm A không có ký tên vào hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất là thật, được các bên đương sự thừa nhận. Tuy nhiên, việc ký hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất là để vay tiền xây nhà tại địa chỉ: 531 Cụm dân cư Khóm 4, thị trấn Lai Vung, huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp là để sử dụng chung cho hộ gia đình, mặc khác Phan Ngọc T, Phạm Thành X, Phạm Thành N, Phạm Ngọc Trâm A tự nguyện liên đới thực hiện nghĩa vụ bảo đảm theo Hợp đồng thế chấp tài sản số: 568/2018/HĐTC đã được Ủy ban nhân dân thị trấn Lai Vung, huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp chứng thực cùng ngày 14/12/2018, sự thỏa thuận này của các đương sự là hoàn toàn tự nguyện, không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội, và đề nghị của Kiểm sát viên chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, nên cần được chấp nhận.
[3] Kể từ khi thụ lý vụ án này, Tòa án đã tiến hành tống đạt đầy đủ các văn bản tố tụng theo luật định mà người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Phạm Thành X, Phạm Thành N, Phạm Ngọc Trâm A vẫn cố tình vắng mặt và cũng không có đơn yêu cầu độc lập. Điều đó thể hiện là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Phạm Thành X, Phạm Thành N, Phạm Ngọc Trâm A đã tự từ bỏ quyền phản đối yêu cầu của nguyên đơn và quyền yêu cầu độc lập của mình.
[4] Về án phí, tạm ứng án phí và chi phí, tạm ứng chi phí:
Toàn bộ yêu cầu của QTD ND LVg được chấp nhận nên Phan Ngọc T, Phạm Thành X, Phạm Thành N, Phạm Ngọc Trâm A phải liên đới chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm và phải chịu toàn bộ chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ, nên Phan Ngọc T, Phạm Thành X, Phạm Thành N, Phạm Ngọc Trâm A phải liên đới hoàn trả cho QTD ND LVg toàn bộ số tiền mà QTD ND LVg đã nộp tạm ứng chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ là có căn cứ.
[5] Các đương sự được quyền kháng cáo bản án này theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 102, Điều 103, Điều 317, Điều 318, Điều 319, Điều 325, Điều 463, Điều 466 của Bộ luật dân sự; Điều 26 của Luật hôn nhân và gia đình; khoản 1, khoản 4 Điều 91, Điều 92, khoản 1 Điều 158, Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự và khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.
Tuyên xử:
1. Buộc Phan Ngọc T, Phạm Thành X, Phạm Thành N, Phạm Ngọc Trâm A liên đới thực hiện nghĩa vụ trả cho QTD ND LVg vốn vay 100.000.000 đồng, lãi 23.338.330 đồng (Tạm tính đến ngày 19/8/2020). Cộng chung vốn, lãi là 123.338.330 đồng (Một trăm hai mươi ba triệu, ba trăm ba mươi tám nghìn, ba trăm ba mươi đồng) và tiếp tục trả lãi theo mức lãi suất đã thỏa thuận trong Hợp đồng tín dụng số: 568/2018/HĐTD ngày 14/12/2018, giữa QTD ND LVg với Phan Ngọc T kể từ ngày 20/8/2020 cho đến khi Phan Ngọc T, Phạm Thành X, Phạm Thành N, Phạm Ngọc Trâm A trả nợ xong.
2. Khi Phan Ngọc T, Phạm Thành X, Phạm Thành N, Phạm Ngọc Trâm A liên đới trả nợ xong, buộc QTD ND LVg trả cho Phan Ngọc T, Phạm Thành X, Phạm Thành N, Phạm Ngọc Trâm A bản chính Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất, do bà Phan Ngọc T đứng tên người sử dụng đất, số bìa BS 271783, số vào sổ cấp GCN: CH03120 được Ủy ban nhân dân huyện Lai Vung cấp ngày 30/6/2014.
3. Công nhận Hợp đồng thế chấp tài sản số: 568/2018/HĐTC đã được Ủy ban nhân dân thị trấn Lai Vung, huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp chứng thực cùng ngày 14/12/2018 giữa bên thế chấp Phan Ngọc T với bên nhận thế chấp QTD ND LVg, tài sản thế chấp quyền sử dụng với diện tích đất 90m2 và căn nhà cấp bốn trên thửa số 175, tờ bản đồ số 31, mục đích sử dụng đất: Đất ở tại đô thị, do bà Phan Ngọc T đứng tên quyền sử dụng đất, địa chỉ thửa đất tại: Khóm 4, thị trấn Lai Vung, huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp có hiệu lực từ ngày 14/12/2018. Trường hợp khi bản án có hiệu lực pháp luật Phan Ngọc T, Phạm Thành X, Phạm Thành N, Phạm Ngọc Trâm A không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ thanh toán tiền cho QTD ND LVg, Cơ quan Thi hành án dân sự có quyền xử lý tài sản đã thế chấp để thi hành án theo quy định của pháp luật.
4. Án phí, tạm ứng án phí và chi phí, tạm ứng chi phí:
4.1. Phan Ngọc T, Phạm Thành X, Phạm Thành N, Phạm Ngọc Trâm A phải liên đới chịu 6.166.500 đồng (Sáu triệu, một trăm sáu mươi sáu nghìn, năm trăm đồng) án phí dân sự sơ thẩm (Phan Ngọc T, Phạm Thành X, Phạm Thành N, Phạm Ngọc Trâm A chưa nộp).
4.2. Hoàn trả lại cho QTD ND LVg 2.862.500 đồng (Hai triệu, tám trăm sáu mươi hai nghìn, năm trăm đồng) đã nộp tiền tạm ứng án phí theo biên lai số: 0000100, ngày 03/3/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp.
4.3. Buộc Phan Ngọc T, Phạm Thành X, Phạm Thành N, Phạm Ngọc Trâm A liên đới hoàn trả cho QTD ND LVg 100.000 đồng (Một trăm nghìn đồng) chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ.
5. Các đương sự được quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (19/8/2020). Đối với đương sự không có mặt tại phiên tòa ngày 19/8/2020 thì thời hạn kháng cáo được tính từ ngày họ nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Trong trường hợp Bản án, Quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Đồng Tháp; - VKSND huyện Lai Vung; - CCTHADS huyện Lai Vung; - Đương sự; - Lưu hồ sơ, án văn. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đã ký Trần Minh Tùng |