- Tranh chấp gì? án hình sự — "Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Phạm Việt B phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HƯƠNG SƠN TỈNH HÀ TĨNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 44/2019/HSST Ngày: 10/9/2019 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HƯƠNG SƠN, TỈNH HÀ TĨNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Dung.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Đình Phước và ông Lương Văn Sơn.
- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Thế Hồng – Thẩm tra viên Tòa án nhân dân huyện Hương Sơn.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hương Sơn tham gia phiên tòa: Bà Bùi Thị Lan Hương – Kiểm sát viên.
Vào hồi 09 giờ 30 phút, ngày 10 tháng 9 năm 2019, tại Trụ Tòa án nhân dân huyện H, tỉnh Hà Tĩnh mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 42/2019/TLST-HS, ngày 08 tháng 8 năm 2019; theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 44/2019/QĐXXST-HS, ngày 27 tháng 8 năm 2019 đối với bị cáo:
* Họ và tên: Phạm Việt B; sinh ngày: 12/7/1995; tại xã S, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh; nơi cư trú: Xóm H, xã S, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Thanh N và bà Nguyễn Thị H; vợ con: Chưa; tiền sự, tiền án: Không; bị bắt tạm giữ từ ngày 15/6/2019 và chuyển tạm giam từ ngày 19/6/2019 tại trại tạm giam Công an tỉnh Hà Tĩnh cho đến nay. Có mặt tại phiên tòa.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Lê Văn T, sinh ngày: 12/12/1993. Nơi cư trú: Xóm H, xã S, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh. Vắng mặt tại phiên tòa.
* Người chứng kiến: Anh Nguyễn Xuân H1, sinh ngày: 20/10/1988. Nơi cư trú: Xã H, huyện N, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Chiều ngày 13/6/2019, Phạm Viết B đi cùng xe ô tô tải nhãn hiệu HUNDAI, màu trắng, mang biển kiểm soát U2-57B của anh Lê Văn T sang Lào. Đến khoảng 10 giờ cùng ngày, B và anh T đi đến thị trấn Lạc Xao, huyện Khăm Cợt, tỉnh Bô Ly Khăm Xay, Lào thì dừng lại nghỉ ngơi và ăn uống tại đây. Lúc này, B nảy sinh ý định mua ma túy mang về Việt Nam để sử dụng, do đó B gặp một người đàn ông Lào (không rõ tên, tuổi, địa chỉ). Hỏi mua 1.000.000 Kíp Lào hồng phiến, người này đồng ý bán. Khoảng 10 phút sau, người đàn ông đó đưa cho B một bọc ni lông màu nâu sẫm, bên trong có chứa 100 viên hồng phiến. B trả tiền cho người đàn ông đó và lấy bọc ni lông đựng hồng phiến mang lên xe cất giấu vào trong túi đồ cá nhân của mình mà không cho T biết. Sau đó, B điều khiển xe lên Thà Khẹt, Lào để bốc hàng Bò húc, còn anh T ngủ bên ghế lái. Đi được một đoạn B lấy hai viên hồng phiến ra sử dụng. Sau đó, B cất số hồng phiến còn lại vào vị trí cũ, rồi tiếp tục điều khiển xe theo đường 13 của Lào. Khi B điều khiển xe đi được nữa đường 13 của Lào thì B dừng xe nghỉ. Tại đây, B lấy hai viên hồng phiến ra sử dụng và nhặt một túi ni lông màu xanh đậm bọc số hồng phiến còn lại, bên ngoài bọc túi ni lông màu trắng. Còn túi ni lông màu nâu sẫm trước đó B vứt trên đường đi, rồi tiếp tục cất dấu hồng phiến vào túi đồ của mình. Đến trưa ngày 14/6/2019, sau khi bốc hàng xong, cả hai điều khiển xe ô tô chạy từ Thà Khẹt, Lào về Việt Nam. Khoảng 20 giờ cùng ngày, xe chạy đến đèo đất (Lào) và dừng lại nghỉ. Trong quá trình anh T ngủ thì B lấy bọc ni lông đựng hồng phiến nói trên cất giấu vào trong hộp cốp gần cần số của xe mà không cho anh T biết. Đến khoảng 10 giờ ngày 15/6/2019, anh T điều khiển xe chạy về tới Cửa khẩu Quốc tế C, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh. Trong quá trình làm thủ tục nhập cảnh, lực lượng chức năng kiểm tra xe và phát hiện trong hộp cốp gần cần số xe có một bọc ni lông màu trắng, bên trong có chứa 96 viên nén màu hồng, trên bề mặt mỗi viên đều có ký hiệu chữ WY, Bắc khai nhận 96 viên nén màu hồng nói trên là hồng phiến của B mua từ Lào về Việt Nam sử dụng cho bản thân.
Tại bản kết luận giám định số 126/GĐMT/PC09 ngày 17/6/2019 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hà Tĩnh, kết luận: 96 viên nén màu hồng, trên bề mặt mỗi viên đều có ký hiệu chữ WY gửi giám định là ma túy, là Methamphetamin, có khối lượng: 9,7120 gam.
* Vật chứng thu giữ gồm:
- 9,7120 gam Methamphetamin sau khi lấy mẫu giám định còn 9,1970 gam; 01 giấy thông hành biên giới Việt Nam – Lào mang tên Phạm Việt B đã chuyển đến Chi cục thi hành án dân sự huyện H, tỉnh Hà Tĩnh.
Tại bản Cáo trạng số: 44/CT-VKS-HS, ngày 07 tháng 8 năm 2019 của Viện kiểm sát nhân dân huyện H, tỉnh Hà Tĩnh truy tố bị cáo Phạm Việt B về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 249 BLHS năm 2015.
Tại phiên tòa hôm nay đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
- Về trách nhiệm hình sự: Áp dụng điểm g khoản 2 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS 2015 xử phạt Phạm Việt B mức án từ 5 (Năm) năm 6 (Sáu) tháng đến 6 (Sáu) năm tù.
- Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 BLHS 2015; điểm a, khoản 2; điểm a khoản 3 Điều 106 BLTTHS năm 2015: Tịch thu tiêu hủy 9,1970 gam Methamphetamine.
- Trả lại 01 giấy thông hành biên giới Việt Nam – Lào mang tên Phạm Việt B cho bị cáo Phạm Việt B. Đã chuyển đến Chi cục thi hành án dân sự huyện H, tỉnh Hà Tĩnh.
- Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 BLTTHS năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326 buộc Phạm Việt B phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo Phạm Việt B thừa nhận hành vi phạm tội như nội dung bản Cáo trạng Viện kiểm sát đã truy tố, không có ý kiến tranh luận với đại diện Viện kiểm sát, bị cáo xin được giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tố tụng: Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Lê Văn T; Người chứng kiến anh Nguyễn Xuân H1 đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt tại phiên tòa hôm nay không có lý do. Bị cáo và đại diện Viện kiểm sát không yêu cầu Tòa án hoãn phiên tòa. Hội đồng xét xử xét thấy sự vắng mặt của anh T, anh H1 không ảnh hưởng đến quá trình làm sáng tỏ diễn biến trong vụ án nên xét xử vắng mặt người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và người chứng kiến.
Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan Cảnh sát điều tra, Điều tra viên Công an huyện H, Viện kiểm sát nhân dân huyện H, Kiểm sát viên: Trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo không có ý kiến gì khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, có đủ cơ sở khẳng định các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa hôm nay bị cáo Phạm Việt B đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với biên bản phạm tội quả tang, kết luận giám định, vật chứng vụ án và các tài liệu chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án; phù hợp với cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát. Vì vậy, có đủ cơ sở khẳng định hành vi Phạm Việt B mua 9,7120 gam Methamphetamin cất dấu trong xe ô tô của T để sử dụng đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm điểm g khoản 2 Điều 249 BLHS 2015. Việc truy tố và xét xử bị cáo theo tội danh và điều luật nêu trên là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không có gì oan sai.
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về ma túy. Methamphetamine là chất gây nghiện, khi con người sử dụng sẽ đe dọa nghiêm trọng đến sức khỏe và sự phát triển lành mạnh nòi giống con người. Hành vi đó làm ảnh hưởng đến trật tự an toàn xã hội và gây hoang mang lo lắng cho mọi người. Vì vậy, cần xét xử bị cáo mức án nghiêm và phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.
Các tình tiết tặng nặng trách nhiệm hình sự: Không.
[6 Các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay bị cáo thể hiện thái độ thành khẩn khai báo. Cần áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự 2015 để giảm nhẹ cho bị cáo một phần.
Đối với người đàn ông bán ma túy cho Phạm Việt B ở Lào do không rõ tên, tuổi, địa chỉ cụ thể nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H không có căn cứ để xử lý nên Hội đồng xét xử miễn xét.
Đối với Lê Văn T, trong quá trình điều tra T không biết B mua ma túy và cất dấu ma túy trong xe của mình. B cũng thừa nhận không nói cho T biết nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H không có căn cứ để xử lý nên Hội đồng xét xử miễn xét.
Về vật chứng vụ án: - 9,7120 gam Methamphetamin sau khi lấy mẫu giám định còn 9,1970 gam Methamphetamin là vật Nhà nước cấm lưu hành nên cần tịch thu tiêu hủy.
- 01 giấy thông hành biên giới Việt Nam – Lào mang tên Phạm Việt B không phải là vật chứng vụ án nên cần trả lại cho bị cáo Phạm Việt B.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ điểm g khoản 2 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51; điểm c khoản 1 Điều 47 BLHS 2015; điểm a khoản 2; điểm a khoản 3 điều 106; khoản 2 điều 136 BLTTHS năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, xử:
- Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Phạm Việt B phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Phạm Việt B 5 (Năm) năm 6 (Sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ (ngày 15/6/2019).
- Về vật chứng vụ án: Tịch thu tiêu hủy: 9,1970 gam Methamphetamine được đựng trong một chiếc phong bì thư đã được niêm phong, kích thước 18x10cm, được dán kín các mép, trên các mép dán có chữ ký và họ tên của Hoàng Văn N, Phạm Việt B, Nguyễn Văn M, Dương Ngọc B1, Nguyễn Tiến P.
- Trả lại 01 giấy thông hành biên giới Việt Nam – Lào mang tên Phạm Việt B. Số thông hành HT7350/19 cấp ngày 04/6/2019. Nơi cấp: Công an tỉnh Hà Tĩnh.
(Đặc điểm các vật chứng như biên bản giao nhận vật chứng ngày 26/7/2019).
- Về án phí: Buộc bị cáo Phạm Việt B phải nộp 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Bị cáo Phạm Việt B được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Lê Văn T được quyền kháng cáo trọng hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án chính hoặc kể từ ngày niêm yết bản án chính.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Hà Tĩnh; - VKSND tỉnh Hà Tĩnh; - Sở tư pháp tỉnh Hà Tĩnh; - Công an tỉnh Hà Tĩnh (PV 06); - VKSND huyện H; - Công an huyện H; - Cơ quan THAHS Công an huyện H; - Chi cục THADS huyện H; - Bị cáo; - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; - UBND xã S; - Lưu hồ sơ, VP. | THAY MẶT HỘI ĐỒNG XÉT XỬ HẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊNTÒA (Đã ký) Nguyễn Thị Dung |