vanban.org

Bản án 44/2019/HSST — Hình sự

TAND huyện Diên Khánh, tỉnh Khánh Hòa Tuyên án 20/09/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Bộ luật hình sự năm 2015.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Lê V 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa đổi, bổ sung…"
  • Tòa quyết gì? Bộ luật hình sự năm 2015.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN DIÊN KHÁNH
TỈNH KHÁNH HÒA
------------

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 44/2019/HSST
Ngày 20 tháng 9 năm 2019

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DIÊN KHÁNH - TỈNH KHÁNH HÒA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Đức Thuận

- Các Hội thẩm nhân dân:

+ Bà Nguyễn Thị Hưởng;

+ Bà Trần Thị Hoa.

- Thư ký phiên tòa: Bà Võ Thị Kiều – Thư ký Tòa án.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Diên Khánh - tỉnh Khánh Hòa tham gia phiên tòa: Ông Huỳnh Tấn Hưng - Kiểm sát viên. Ngày 20 tháng 9 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Diên Khánh, tỉnh Khánh Hòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 45/2019/HSST ngày 10 tháng 7 năm 2019, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 46/2019/HSST-QĐ ngày 23 tháng 8 năm 2019 đối với bị cáo: Nguyễn Lê V - sinh năm 1986, tại Khánh Hòa; Tên gọi khác: (không); Nơi đăng ký NKTT và chỗ ở: xã Ninh Xuân, thị xã Ninh Hòa, tỉnh Khánh Hòa; Nghề nghiệp: lái xe; dân tộc: kinh; giới tính: nam; Tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; Trình độ học vấn 9/12; Con ông Nguyễn Văn K (sinh năm 1959) và bà Lê Thị Xuân L (sinh năm 1964); Vợ: Lê Thị Thúy D; Con: có 01 con sinh năm 2016; Tiền án, tiền sự: không; Bị cáo bị cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt tại phiên tòa.

- Bị hại: Phan Văn X - sinh năm 1967 (đã chết) Người đại diện hợp pháp của bị hại Phan Văn X: bà Nguyễn Thị Thu H - sinh năm 1969 (vợ của ông X), Phan Văn C - sinh năm 1993 (con ruột của ông X và bà H), Phan Thị Hoài L – sinh năm 1997 (con ruột của ông X và bà H) Cùng địa chỉ: xã Diên Toàn, huyện Diên Khánh, Khánh Hòa. Đại diện theo ủy quyền của bà H, anh C, chị L: là anh Vũ Thanh H – sinh năm 1993; Địa chỉ: phường Tân Hưng, quận 7, thành phố Hồ Chí Minh (Văn bản ủy quyền lập ngày 11/5/2019). (Có mặt)

- Bị đơn dân sự: Phạm Văn Q – sinh năm 1992 Địa chỉ: xã Ninh Thân, thị xã Ninh Hòa, Khánh Hòa. (Có mặt)

- Người tham gia tố tụng khác: Đoàn Vĩnh Th (vắng mặt), Bùi Tuấn K (có mặt), Nguyễn Thị Kim D (có mặt), Bùi Văn H (vắng mặt), Nguyễn Thị H. (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Nguyễn Lê V có giấy phép lái xe theo quy định, là lái xe thuê cho anh Phạm Văn Q, được giao lái xe ô tô tải biển kiểm soát 77C-022.xx. Ngày 26/01/2019, V điều khiển xe ô tô biển kiểm soát 77C-022.xx chở gỗ keo từ thị xã Ninh Hòa đến huyện Cam Lâm, tỉnh Khánh Hòa. Khoảng 19 giờ cùng ngày, V điều khiển xe ô tô tải nói trên đến đoạn đường Quốc lộ 1A thuộc thị trấn Diên Khánh, huyện Diên Khánh, đây là đoạn đường 02 chiều, có giải phân cách cứng ở giữa phân chia phần đường, V điều khiển xe đi ở phần đường bên phải, sát giải phân cách cứng. Khi xe ô tô đến ngã tư cách cầu Sông Cái, thị trấn Diên Khánh khoảng 100m, V thấy xe mô tô từ bên trái đi ra giữa đường và dừng lại. Sợ xe máy bất ngờ băng qua đường, V điều khiển xe di chuyển vào làn đường liền kề bên phải rồi tiếp tục đi thẳng với tốc độ khoảng 40km/giờ. Khi đến gần cầu Sông Cái, V nhìn thấy ô tô đi cùng chiều phía sau (không xác định biển kiểm soát) có tín hiệu xin vượt và vượt lên bên trái xe của V. V không giảm tốc độ mà tiếp tục điều khiển xe ô tô đi song song với xe tải để lên cầu Sông Cái. Khi đến km 1455 + 139 cầu Sông Cái, đường Quốc lộ 1A, thị trấn Diên Khánh, phía sau bên phải xe ô tô do V điều khiển đã va chạm với xe mô tô biển kiểm soát 79K7-71xx do ông Phan Văn X điều khiển cùng chiều đường bên phải. Hậu quả: ông X bị cuốn vào gầm xe và tử vong tại chỗ, xe mô tô biển kiểm soát 79K7-71xx bị hư hỏng. Tại bản giám định pháp y về tử thi số 51/TT-TTPY ngày 31/01/2019 của Trung tâm pháp y tỉnh Khánh Hòa kết luận nguyên nhân tử vong của ông Phan Văn X là do đa chấn thương. Tại bản kết luận định giá tài sản số 31/KL-HĐĐGTS ngày 16/5/2019 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Diên Khánh xác định: Xe mô tô biển kiểm soát 79K7-71xx bị hư hỏng tổng giá trị thiệt hại là 2.550.000 đồng. Tại cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an huyện Diên Khánh, Nguyễn Lê V đã khai nhận hành vi phạm tội của mình. Tại bản cáo trạng số: 36/CT-VKSDK ngày 10/7/2019 Viện kiểm sát nhân dân huyện Diên Khánh, tỉnh Khánh Hoà đã truy tố bị cáo Nguyễn Lê V về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm a khoản 1 điều 260 của Bộ luật hình sự năm 2015. Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Diên Khánh vẫn giữ nguyên về điều luật và tội danh của bị cáo V như bản cáo trạng đã nêu. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260; Áp dụng điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015. Xử phạt bị cáo Nguyễn Lê V từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù giam, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án. Về trách nhiệm dân sự: Ghi nhận sự tự nguyện bồi thường giữa bị cáo, bị đơn dân sự với đại diện cho gia đình bị hại. Đề nghị Hội đồng xét xử buộc bị cáo Nguyễn Lê V tiếp tục bồi thường cho gia đình bị hại số tiền 100.000.000 đồng, bị đơn dân sự Phạm Văn Q tiếp tục bồi thường cho gia đình bị hại số tiền 100.000.000 đồng.

Về vật chứng vụ án: Xe mô tô biển kiểm soát 79K7-71xx là tài sản của ông Phan Văn X nên đề nghị Hội đồng xét xử trả lại cho gia đình của ông X. Xe ô tô tải 77C-022.xx là tài sản của ông Phạm Văn Q nên đề nghị Hội đồng xét xử tiếp tục tạm giữ để đảm bảo công tác thi hành án.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về tố tụng: Tại phiên tòa người làm chứng Đoàn Vĩnh Th, Bùi Văn H, Nguyễn Thị H vắng mặt, sự vắng mặt của họ không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án cũng như quyền lợi của họ. Do đó, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt theo 293 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.

[2] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Diên Khánh, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Diên Khánh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo, đại diện hợp pháp cho bị hại, bị đơn dân sự không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[3] Tại phiên toà bị cáo Nguyễn Lê V đã khai nhận toàn bộ về hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung bản cáo trạng đã nêu. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã có đủ căn cứ để kết luận Nguyễn Lê V phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm a khoản 1 điều 260 Bộ luật hình sự năm 2015.

[4] Hành vi phạm tội của bị cáo thể hiện sự bất cẩn, xem thường pháp luật. Bị cáo có giấy phép lái xe đúng quy định nhưng khi điều khiển xe chuyển hướng, khi lên cầu hẹp nhường đường không đúng, thiếu quan sát nên không phát hiện có xe phía trước để nhường đường, chạy sát lề phải trên cầu, gây hậu quả chết người. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến tính mạng của người khác, đây là khách thể được pháp luật bảo vệ. Do vậy, phải cần được xử lý nghiêm và cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới có tác dụng giáo dục và phòng ngừa chung. Tuy nhiên, tại phiên toà sơ thẩm cũng như trong quá trình điều tra, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về lỗi lầm của mình, bị cáo đã cùng bị đơn dân sự tự nguyện bồi thường một phần thiệt hại cho gia đình của bị hại. Bị cáo chưa có tiền án tiền sự, bị cáo đã từng thực hiện nghĩa vụ quân sự trong quân đội, bị cáo được đại diện cho gia đình bị hại xin giảm nhẹ hình phạt. Vì vậy, cần được xem xét các tình tiết này để giảm nhẹ về mặt hình phạt cho bị cáo để bị cáo thấy được sự khoan hồng của pháp luật mà an tâm cải tạo.

[5] Đối với đề nghị của đại diện Viện kiểm sát: Áp dụng điểm a khoản 1

Điều 260; áp dụng tình tiết giảm nhẹ là điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015 đối với bị cáo. Hội đồng xét xử xét thấy đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp nên chấp nhận. Đối với đề nghị tiếp tục tạm giữ xe ô tô 77C – 022.xx, xét thấy đây là vật chứng nhưng là phương tiện làm ăn của bị đơn dân sự, nếu tiếp tục tạm giữ sẽ gây hư hỏng, không phát sinh kinh tế, gây thiệt hại. Do đó, cần trả lại xe ô tô tải 77C – 022.xx cho bị đơn dân sự.

[6] Về vật chứng vụ án: Xét thấy xe mô tô biển kiểm soát 79K7-71xx là

tài sản của ông Phan Văn X nên cần trả lại cho gia đình của ông X. Xe ô tô tải 77C-022.xx là tải sản của ông Phạm Văn Q nên cần trả lại cho ông Q.

[7] Về trách nhiệm dân sự: Tại phiên Tòa, đại diện gia đình bị hại yêu

cầu bị cáo và bị đơn dân sự tiếp tục bồi thường 200.000.000 đồng. Bị cáo và bị đơn dân sự đồng ý. Do đó, ghi nhận sự tự nguyện bồi thường giữa bị cáo, bị đơn dân sự với đại diện cho gia đình bị hại. Bị cáo Nguyễn Lê V tiếp tục bồi thường cho gia đình bị hại số tiền 100.000.000 đồng, bị đơn dân sự Phạm Văn Q tiếp tục bồi thường cho gia đình bị hại số tiền 100.000.000 đồng.

[8] Về án phí: Bị cáo Nguyễn Lê V phải nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm

và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định. Bị đơn dân sự Phạm Văn Q phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của

Bộ luật hình sự năm 2015.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Lê V 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù về tội “Vi

phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.

Về trách nhiệm dân sự: Ghi nhận sự tự nguyện bồi thường giữa bị cáo, bị

đơn dân sự với đại diện cho gia đình bị hại. Buộc bị cáo Nguyễn Lê V phải tiếp tục bồi thường cho gia đình bị hại số tiền 100.000.000 đồng (một trăm triệu đồng), bị đơn dân sự Phạm Văn Q phải tiếp tục bồi thường cho gia đình bị hại số tiền 100.000.000 đồng (một trăm triệu đồng).

Về vật chứng vụ án: Căn cứ điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Trả cho đại

diện hợp pháp của bị hại Phan Văn X 01 xe mô tô biển kiểm soát 79K7-71xx. Trả cho bị đơn dân sự là ông Phạm Văn Q xe ô tô tải biển kiểm soát 77C-022.xx (Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 12 tháng 7 năm 2019 giữa cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Diên Khánh và Chi cục thi hành án dân sự huyện Diên Khánh).

Về án phí: Căn cứ Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Nghị

quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội: bị cáo Nguyễn Lê V phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí Hình sự sơ thẩm và 5.000.000 đồng (năm triệu đồng) án phí dân sự sơ thẩm. Bị đơn dân sự Phạm Văn Q phải chịu 5.000.000 đồng (năm triệu đồng) án phí Dân sự sơ thẩm.

Quy định:

K t khi bản án có hiệu lực pháp luật ho c k t ngày bị hại có đơn yêu c u thi hành án cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành, theo quy định tại Điều 2 uật Thi hành án Dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu c u thi hành án, tự nguyện thi hành án ho c bị cư ng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 uật Thi hành án Dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 0 uật Thi hành án

Bị cáo, đại diện hợp pháp cho bị hại, bị đơn dân sự có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm để yêu cầu Toà án tỉnh Khánh Hoà xét xử phúc thẩm.

Cỡ chữ