vanban.org

Bản án 44/2019/HS-ST — Hình sự

TAND TX. Phú Thọ, tỉnh Phú Thọ Tuyên án 28/08/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

[1] Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 - BLHS. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Quốc H phạm tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Xö ph¹t: Bị cáo Nguyễn Quốc H 24 (Hai mƣơi tƣ) tháng tù.

[2] Về vật chứng: Trả lại cho bị cáo Nguyễn Quốc H 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu NOKA màu xám, đã qua sử dụng số IMEI: 357322081887157, kèm theo thẻ sim 0369252380. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Quốc H phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điề…"
  • Tòa quyết gì? [1] Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 - BLHS. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Quốc H phạm tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Xö ph¹t: Bị cáo Nguyễn Quốc H 24 (Hai mƣơi tƣ) tháng tù.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ PHÚ THỌ
TỈNH PHÚ THỌ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 44/2019/HS-ST
Ngày 28/8/2019.

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG H XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ PHÚ THỌ - TỈNH PHÚ THỌ

- Thành phần xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Hƣng Thủy. Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Phạm Thị Ngọc Lan

2. Ông Quách Hữu Điệp

Thư ký ghi biên bản phiên toà: Ông Nguyễn Hải Phú – Thư ký Tòa án nhân dân thị xã P, tỉnh Phú Thọ.

- Đại diện Viện siểm sát nhân dân thị xã P tham gia phiên tòa: Bà Phạm Ngọc Hoa - Kiểm sát viên.

Hôm nay, ngày 28 tháng 8 năm 2019 tại trụ sở TAND thị xã Phú Thọ, tỉnh Phú Thọ mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 45/2019/TLST - HS, ngày 02 tháng 8 năm 2019 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 43/2019/QĐXXST-HS, ngày 15/8/2019 đối với bị cáo: Họ và tên: Nguyễn Quốc H sinh năm 1984 Nơi ĐK HKTT và chỗ ở hiện nay: Khu 7, xã P, huyện Đ, tỉnh Phú Thọ. Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 10/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn H Sinh năm 1955 và bà Lương Thị P Sinh năm 1955 Gia đình bị cáo có 04 người, bị cáo là thứ 03. Vợ Trần Thị H, Sinh năm: 1987 Bị cáo có 02 con, lớn sinh năm 2005 nhỏ sinh năm 2009 Tiền sự: Không Tiền án, 01 tiền án. Bản án hình sự số 41/2017/HSST, ngày 15 tháng 8 năm 2017 của Tòa án nhân dân huyện P, tỉnh Phú Thọ xử phạt Nguyễn Quốc H 30 tháng tù về tội Tàng trữ, mua bán trái phép chất ma túy. Ra trại ngày 27/4/2019 (Chưa được xóa án tích).

Lịch sử bản thân: Bản án hình sự số 98/2016/HSST, ngày 04 tháng 08 năm 2006 của TAND tỉnh Phú Thọ xử phạt Nguyễn Quốc H 02 năm tù về tội Cướp giật tài sản (Đã xóa án tích).

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 11/5/2019 chuyển tạm giam ngày 17/5/2019. Hiện bị cáo H đang bị tạm giam tại trại tạm giam Công an tỉnh Phú Thọ.

(Có mặt tại phiên tòa)

Người chứng kiến::

Anh Lê Huy T sinh năm 1984 Trú tại: Khu 3 xã P, thị xã P, tỉnh Phú Thọ. (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 16 giờ 30 phút, ngày 11/5/2019 tại cổng nghĩa trang thuộc khu 3, xã P, thị xã P, tỉnh Phú Thọ; phòng CSĐTTP về ma túy Công an tỉnh Phú Thọ phát hiện một thanh niên có biểu hiện nghi vấn liên quan đến ma túy nên đã yêu cầu kiểm tra. Tại nơi kiểm tra, nam thanh niên này khai là Nguyễn Quốc H, sinh năm 1984, trú tại khu 7, xã P, huyện Đ, tỉnh Phú Thọ. Quá trình kiểm tra, Nguyễn Quốc H tự giác giao nộp cho tổ công tác 01 gói giấy mặt ngoài màu trắng, mặt trong màu vàng, bên trong có chứa chất bột, cục màu trắng. H khai nhận là ma túy loại Heroin, H cất giữ để sử dụng cho bản thân. Ngoài ra, tổ công tác còn thu giữ của H 01 điên thoại di động nhãn hiệu Nokia màu xám, đã qua sử dụng, có số IMEI: 357322081887157, kèm theo 01 thẻ sim số 0369252380. Tổ công tác đã mời người chứng kiến sau đó cho 01 gói giấy chứa chất bột, cục màu trằng thu giữ của H vào 01 phong bì giấy niêm phong lại, Tổ công tác yêu cầu H cùng các thành phần tham gia ký tên trên bì giấy, đồng thời lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và biên bản niêm phong vật chứng theo quy định của pháp luật.

Ngày 12/5/2019 Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Phú Thọ đã tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của Nguyễn Quốc H tại khu 7, xã P, huyện Đ, tỉnh Phú Thọ. Quá trình khám xét không thu giữ đồ vật, tài sản gì. Cùng ngày, Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Phú Thọ ra quyết định trưng cầu giám định gói giấy chứa chất bột, cục màu trắng thu giữ của Nguyễn Quốc H ngày 11/5/2019.

Tại bản kết luận giám định số 629/KLGĐ ngày 15/5/2019 của phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Phú Thọ đã kết luận:

“Mẫu chất bột, cục màu trắng gửi giám định là ma túy; có khối lượng là: 0,348 gam, loại Heroine.

Heroine là chất ma túy nằm trong Danh mục I, số thứ tự 09, Nghị định số 73/2018/NĐ-CP ngày 15/5/2018 của Chính phủ.

Hoàn trả lại 0,167 gam chất bột, cục màu trắng; cùng toàn bộ bao gói gửi đến giám định được niêm phong, dán kín trong bì giấy có đóng 05 hình dấu tròn màu đỏ của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Phú Thọ và chữ ký các thành phần liên quan tại các mép dán.”

Xét thấy vụ việc thuộc thẩm quyền điều tra của Cơ quan CSĐT Công an thị xã P, ngày 15/5/2019 Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Phú Thọ đã chuyển toàn bộ hồ sơ cùng vật chứng đến Cơ quan CSĐT Công an thị xã P để điều tra theo quy định của pháp luật. Ngày 17/05/2019 Cơ quan CSĐT Công an thị xã P đã ra Quyết đinh khởi tố vụ án và Quyết đinh khởi tố bị can đối với Nguyễn Quốc H về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 249 - BLHS.

Tại cơ quan điều tra, Nguyễn Quốc H đã khai nhận về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy trong ngày 11/5/2019 cụ thể như sau:

Thỉnh thoảng H có ngồi uống nước tại quán nước ven đường trước cửa nhà ở Khu 7, xã P, huyện Đ, tỉnh Phú Thọ. Tại đây, H có gặp và quen một người đàn ông tên H (H không biết địa chỉ cụ thể của người này). Qua nói chuyện vài lần H biết H cũng nghiện ma túy giống mình nên H đã chỉ nhà của mình cho H biết. Đến khoảng 11 giờ ngày 08/5/2019, H đi xe máy đến nhà H chơi, ngồi chơi được một lúc H hỏi H có dùng ma túy không thì H trả lời là “có”. H lấy trong người ra một gói ma túy đưa cho H rồi đi về. Sau khi được H cho gói ma túy trên, H đã sử dụng một phần, phần còn lại H cất giữ để sử dụng cho bản thân. Đến chiều ngày 11/5/2019, H mang theo số ma túy còn lại cất vào túi áo và đi xe bus xuống nhà một người bạn tên Nghĩa ở xã P, thị xã P chơi. Nguyễn Quốc H ngồi xe bus đi đến gần khu vực gần nghĩa trang khu 3, xã P, thị xã P thì xuống xe và định đi bộ vào nhà bạn. Đúng lúc này thì H lên cơn nghiện nên H chưa đi vào nhà bạn mà đi tìm nơi để sử dụng ma túy. Khi H đang quanh quẩn tại khu vực cổng nghĩa trang khu 3, xã P, thị xã P để tìm nơi sử dụng ma túy thì bị Tổ công tác đội CSĐTTP về ma túy Công an tỉnh Phú Thọ bắt giữ như đã nêu trên.

Về người đàn ông tên H cho H 01 gói ma túy ngày 08/5/2019, H khai không biết số điện thoại, địa chỉ cụ thể của người này cũng như không nhớ biển số xe máy H sử dụng đi đến nhà H. Cơ quan Cảnh sát điều tra không đủ căn cứ để xác minh người này nên không đề cập xử lý là phù hợp.

Về đồ vật, tài sản tạm giữ: Đối với chiếc điện thoại di động nhãn hiệu NOKA màu xám, đã qua sử dụng gắn thẻ sim 0369252380 thu giữ của H, kết quả điều tra xác định chiếc điện thoại trên H sử dụng để liên lạc cá nhân, không liên quan đến hành vi phạm tội của Nguyễn Quốc H.

Tại cơ quan điều tra, Nguyễn Quốc H đã khai nhận toàn bộ hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy để sử dụng cho bản thân như đã nêu trên. Hành vi đó được chứng minh bằng: Biên bản bắt người phạm tội quả tang; vật chứng thu giữ, kết luận giám định, lời khai người chứng kiến, lời khai nhận tội của H cùng các tài liệu điều tra khác có trong hồ sơ vụ án.

Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa hôm nay bị cáo Nguyễn Quốc H đã khai nhận toàn bộ hành vi như đã nêu ở trên.

Hành vi nêu trên của H đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”

theo quy định tại khoản 1 Điều 249 - BLHS.

Tại bản cáo trạng số: 46/CT-VKSTXPT ngày 31/7/2019 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã P, tỉnh Phú Thọ đã truy tố bị cáo Nguyễn Quốc H về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 điều 249 - BLHS.

Tại phiên Toà hôm nay đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã P thực hành quyền công tố vẫn giữ nguyên quyết định truy tố. Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Quốc H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và đề nghị áp dụng điểm c khoản 1 điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 - BLHS.

Đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Quốc H từ 18 đến 24 tháng tù.Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ.

Đề nghị miễn hình phạt bổ sung theo điều luật cho bị cáo H.

Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 46, khoản 1 Điều 47 - BLHS; Khoản 2, điểm a,b khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

Về vật chứng :

Đề nghị trả lại cho bị cáo Nguyễn Quốc H 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu NOKA màu xám, đã qua sử dụng gắn thẻ sim 0369252380, nhưng tạm giữ để đảm bảo Thi hành án.

Đề nghị tịch thu cho tiêu hủy 01 bì niêm phong số 629/KLGĐ của phòng kỹ thuật hình sự công an tỉnh Phú Thọ bên trong có 0,167 gam chất bột cục màu trắng hoàn lại sau giám định.

Về án phí: Bị cáo H phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Bị cáo tự bào chữa cho bản thân, nhất trí với bản cáo trạng và luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã P.

Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, lời khai của bị cáo và người chứng kiến trong quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thị xã P, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã P, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã xuất trình tài liệu, chứng cứ phù hợp với quy định của pháp luật; Bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về nội dung: Tại phiên tòa hôm nay bị cáo Nguyễn Quốc H đã khai nhận đã có hành vi phạm tội như bản Cáo trạng đã nêu, lời khai của bị cáo tại phiên tòa hoàn toàn phù hợp với quá trình điều tra, giải quyết vụ án do đó có đủ cơ sở khẳng định:

Hồi 16 giờ 30 phút, ngày 11/5/2019, tại cổng nghĩa trang thuộc khu 3, xã P, thị xã P, tỉnh Phú Thọ, Nguyễn Quốc H thực hiện hành vi tàng trữ trái phép 0,348 gam chất ma túy loại Heroine để sử dụng cho bản thân thì bị phòng CSĐTTP về ma túy Công an tỉnh Phú Thọ phát hiện và bắt quả tang.

Tại bản kết luận giám định số 629/KLGĐ ngày 15/5/2019 của phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Phú Thọ đã kết luận:

“Mẫu chất bột, cục màu trắng gửi giám định là ma túy; có khối lượng là: 0,348 gam, loại Heroine.

Heroine là chất ma túy nằm trong Danh mục I, số thứ tự 09, Nghị định số 73/2018/NĐ-CP ngày 15/5/2018 của Chính phủ.

Hoàn trả lại 0,167 gam chất bột, cục màu trắng; cùng toàn bộ bao gói gửi đến giám định được niêm phong, dán kín trong bì giấy có đóng 05 hình dấu tròn màu đỏ của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Phú Thọ và chữ ký các thành phần liên quan tại các mép dán.”

Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa hôm nay bị cáo H xin được tự mình bào chữa và không có lời bào chữa khác, đã hoàn toàn thừa nhận hành vi phạm tội như bản cáo trạng đã truy tố. Đã có đủ cơ sở kết luận Nguyễn Quốc H phạm tội “Tàng trái phép chất ma túy” tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 điều 249 - BLHS.

Khoản 1 Điều 249 - BLHS quy định:

“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

………………….

c) Heroine, cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam.

………”

Về tội danh và điều luật áp dụng mà VKSND thị xã P đã quyết định truy tố là hoàn toàn đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

Xét vụ án có tính chất nghiêm trọng, khách thể của tội phạm này là xâm hại đến chế độ quản lý độc quyền của Nhà nước về việc cất giữ, vận chuyển, trao đổi, chất ma tuý. Trước thực trạng xã hội loại tội phạm này đã gây ra những hậu quả vô cùng nguy hiểm cho toàn xã hội, gây nên sự tổn thương mất mát rất nghiêm trọng về tính mạng, tài sản, hạnh phúc gia đình trong hiện tại cũng như tương lai, ảnh hưởng rất nặng nề đến trật tự an toàn xã hội và đe dọa tới sự tồn tại và phát triển của giống nòi, hành vi phạm tội mua bán trái phép chất ma túy của bị cáo Phương đã gây bất bình trong quần chúng nhân dân, ảnh hưởng nghiêm trọng đến sự quản lý giáo dục của gia đình và toàn xã hội. Đây chính là nguyên nhân phát sinh ra các loại tội phạm khác.

Xét về nhân thân, bị cáo có một nhân rất thân xấu có 01 tiền án. Tại bản án hình sự số 41/2017/HSST, ngày 15 tháng 8 năm 2017 của Tòa án nhân dân huyện P, tỉnh Phú Thọ xử phạt 30 tháng tù về tội Tàng trữ, mua bán trái phép chất ma túy. (Chưa được xóa án tích). Ngoài ra bị cáo bị Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ xử phạt 02 năm tù về tội Cướp giật tài sản theo bản án hình sự sơ thẩm số 98/2006/HSST, ngày 04 tháng 8 năm 2006 (Đã xóa án tích), nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học để cải tà quy chính để hoàn lương, trở thành người lương thiện mà còn tỏ thái độ coi thường pháp luật, tiếp tục phạm tội, bị cáo phạm tội lần này thuộc trường hợp nghiêm trọng, và là tái phạm. Tuy nhiên trong quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay bị cáo đã thành khẩn khai báo ăn năn hối cải, nên HĐXX xem xét cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 điều 51- BLHS, nhưng bị cáo cùng phải chị tình tiết tăng nặng TNHS được quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 – BLHS đó là tái phạm.

Xét về tính chất, mức độ hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo, nên vụ án cần phải được đưa ra xét xử thật nghiêm minh trước pháp luật, cần phải áp dụng một hình phạt tù cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian tương xứng với hành vi phạm tội, để bị cáo thấy được ngoài sự khoan hồng của pháp luật ra còn có sự chừng phạt đối với những người không chịu tu dưỡng bản thân để cải tạo trở thành người lương thiện mà lao sâu vào con đường nghiện hút đồng thời làm những việc bất hợp pháp dẫn đến phạm tội.

Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249- BLHS bị cáo còn có thể bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm trăm triệu đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.

Nhưng xét thấy hiện nay bị cáo là con nghiện ma túy, không có tài sản riêng, không có chức vụ gì nên HĐXX miễn hình phạt bổ sung theo quy định của điều luật cho bị cáo là phù hợp.

Về vật chứng:

Đối với 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu NOKA màu xám, đã qua sử dụng gắn thẻ sim 0369252380 thu giữ của bị cáo H. Quá trình Điều tra giải quyết vụ án xác định chiếc điện thoại trên không liên quan đến hành vi phạm tội nên cần được trả lại cho bị cáo Nguyễn Quốc H là phù hợp.

Cần tịch thu cho tiêu hủy 01 bì niêm phong số 629/KLGĐ của phòng kỹ thuật hình sự công an tỉnh Phú Thọ bên trong có 0,167 gam chất bột cục màu trắng hoàn lại sau giám định.

Về án phí: Bị cáo Nguyễn Quốc H phải chịu án phí hình sự theo quy định của pháp luật. Bị cáo có quyền kháng cáo theo luật định.

Xét đề nghị của Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân thị xã P tại phiên tòa phù hợp với nhận định trên của Hội đồng xét xử cần chấp nhận.

Vì các lẽ trên

QUYẾT ĐỊNH

[1] Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 - BLHS. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Quốc H phạm tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Xö ph¹t: Bị cáo Nguyễn Quốc H 24 (Hai mƣơi tƣ) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ là ngày 11/5/2019. Miễn hình phạt bổ sung theo quy định tại điều luật cho bị cáo H.

[2] Về vật chứng:

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 - BLHS ; Điểm a Khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

Trả lại cho bị cáo Nguyễn Quốc H 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu NOKA màu xám, đã qua sử dụng số IMEI: 357322081887157, kèm theo thẻ sim 0369252380.

Tịch thu cho tiêu hủy 01 bì niêm phong số 629/KLGĐ của phòng kỹ thuật hình sự công an tỉnh Phú Thọ bên trong có 0,167 gam chất bột cục màu trắng hoàn lại sau giám định. Các vật chứng có tình trạng như biên bản giao nhận vật chứng lập ngày 02/8/2019 tại Chi cục Thi hành án dân sự thị xã P, tỉnh Phú Thọ.

[3] Về án phí:

Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.

Buộc bị cáo Nguyễn Quốc H phải chịu 200.000đ ( Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án bị cáo H (Có mặt) được quyền kháng cáo lên TAND tỉnh Phú Thọ để yêu cầu xét xử phúc thẩm. Nơi gửi:

TM . HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- VKSND thị xã P;

Thâm phán - Chủ toạ phiên toà

- VKSND tỉnh Phú Thọ;

(Đã ký)

- Công an thị xã P;

- UBND xã P – Đ;

- Sơ tư pháp;

Trần Hƣng Thủy

- Chi cục THADS;

- Bị cáo;

- THA HS;

- L u HS - VP;

Cỡ chữ