vanban.org

Bản án 44/2019/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Tuy Phong, tỉnh Bình Thuận Tuyên án 13/06/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

[1] Tuyên bố: Bị cáo Đỗ Thanh A phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Áp dụng: điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ Luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017. Xử phạt: bị cáo Đỗ Thanh A 18 (mười tám) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 28.12.2018. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Tàng trữ trái pháp chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? [1] Tuyên bố: Bị cáo Đỗ Thanh A phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 46 Bộ luật Hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TUY PHONG
TỈNH BÌNH THUẬN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 44/2019/HS-ST
Ngày: 13/6/2019

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUY PHONG, TỈNH BÌNH THUẬN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Quốc Trí

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Bá Ky.

2. Bà Nguyễn Hoàng Bích Loan.

- Thư ký phiên tòa: Ông Thanh Lê Anh Tuấn, Thư ký tòa án huyện Tuy Phong.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy Phong tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Thìn - Kiểm sát viên.

Trong ngày 13 tháng 6 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tuy Phong xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 23/2019/HSST, ngày 05/4/2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 33/2019/QĐXXST-HS ngày 30 tháng 5 năm 2019, đối với bị cáo:

Họ và tên: Đỗ Thanh A, (tên gọi khác: Xin); giới tính: Nam; sinh năm 1983 tại tỉnh Bình Thuận; Nơi ĐKNKTT: khu phố U9, thị trấn U, huyện W, tỉnh Bình Thuận; Chổ ở: xóm 1, thôn T1, xã T, huyện W, tỉnh Bình Thuận; Trình độ văn hóa: 2/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Nghề nghiệp: chạy xe thồ; Con ông: Nguyễn Thanh B và mẹ: Đỗ Thị C; Vợ: Nguyễn Thị Ngọc D, con: có 3 người, lớn nhất sinh 2004, nhỏ nhất sinh 2013; Tiền án, tiền sự: không.

Quá trình hoạt động nhân thân: Ngày 24.10.2005 bị Tòa án nhân dân Tối Cao tại thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 1 năm 6 tháng tù về tội Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ, chấp hành xong hình phạt ngày 24.10.2007.

Bị cáo bị bắt ngày 28.12.2018 hiện đang tạm giam tại nhà tạm giữ Công an huyện Tuy Phong. Có mặt.

Người làm chứng:

1. Nguyễn Thanh F, sinh năm 1975.

Nơi cư trú: Khu phố U14, thị trấn U, huyện W, tỉnh Bình Thuận. Vắng mặt.

2. Nguyễn Thị Ngọc D, sinh năm 1990.

Nơi cư trú: Khu phố U9, thị trấn U, huyện W, tỉnh Bình Thuận. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do nghiện ma túy nên khoảng 09 giờ ngày 28.12.2018, Đỗ Thanh A, sinh năm 1983, trú tại khu phố U9, thị trấn U, huyện W điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda màu đen bạc, biển số 86B1 – 27728 đến khu vực xóm Cốt, khu phố U3, thị trấn U, huyện W nhờ một người thanh niên không rõ lại lịch mua dùm 6 tép heroin để sử dụng, người thanh niên đồng ý nên A lấy 500.000 đồng đưa cho người thanh niên. Người thanh niên cầm tiền bỏ đi đâu không rõ khoảng 10 phút sau quay lại đưa cho A 01 gói giấy nhỏ bên trong có chứa 6 đoạn ống nhựa màu vàng bên trong có chứa heroin. A cất giấu heroin vào trong túi áo rồi điều khiển xe mô tô về đến khu vực công viên thuộc khu phố U14, thị trấn U, huyện W lúc khoảng 9 giờ 30 phút cùng ngày thì bị tổ công tác Đồn biên phòng Hòa Minh phối hợp cùng với công an huyện Tuy Phong, công an thị trấn Phan Rí Cửa phát hiện bắt quả tang. Thu giữ trong túi áo phía trước của A 01 gói giấy nhỏ màu trắng bên trong có chứa 6 đoạn ống nhựa màu vàng, mỗi đoạn có kích thước 0,5 x 1cm hàn kín hai đầu, bên trong có chứa chất màu trắng, A khai nhận là Heroin; 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda màu đen bạc, biển số 86B1 – 27728 và 14.950.000 đồng (đều được niêm phong).

Tại bản Kết luận giám định số 1212/KLGĐ-PC09 ngày 30.12.2018 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Bình Thuận, kết luận: Mẫu M gửi đến giám định có khối lượng 0,1702 gam; là Heroin.

Tại phiên tòa sơ thẩm:

- Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên Quyết định truy tố theo Cáo trạng số 30/CT/VKSTP-HS ngày 05/4/2019 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy Phong.

Đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố bị cáo Đỗ Thanh A phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017.

Áp dụng: điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ Luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017.

Xử phạt bị cáo Đỗ Thanh A mức án từ 12 tháng đến 18 tháng tù.

Căn cứ vào các chứng cứ và các tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Viện kiểm sát, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, trình tự thủ tục tố tụng cũng như các quyết định của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy Phong: Trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, trình tự thủ tục tố tụng cũng như các quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, trình tự thủ tục tố tụng cũng như các quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều đúng quy định pháp luật.

Về chứng cứ buộc tội bị cáo: Tại phiên tòa, bị cáo Đỗ Thanh A đã thừa nhận hành vi phạm tội như nội dung Cáo trạng số 30/CT/VKSTP-HS ngày 05/4/2019 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy Phong đã truy tố. Bị cáo khẳng định những lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra là hoàn toàn tự nguyện, đúng sự thật, bị cáo không bị bức cung và Cáo trạng truy tố là đúng, không oan cho bị cáo. Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra cũng như các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.

Như vậy, có đủ cơ sở kết luận đây là vụ án “Tàng trữ trái phép chất ma túy” xảy ra vào khoảng 9 giờ 30 phút ngày 28.12.2018 tại khu phố U14, thị trấn U, huyện W do bị cáo Đỗ Thanh A đang tàng trữ 0,1702 gam Heroin để sử dụng thì bị phát hiện, bắt quả tang.

Vì vậy, Cáo trạng số Cáo trạng số 30/CT/VKSTP-HS ngày 05/4/2019 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy Phong truy tố bị cáo Đỗ Thanh A về tội “Tàng trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017 là có căn cứ và đúng quy định của pháp luật.

Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo:

Bị cáo Đỗ Thanh A là công dân có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, bị cáo nhận thức được pháp luật luôn nghiêm cấm các hành vi mua bán, sử dụng, tàng trữ trái phép chất ma túy nhưng do bản thân bị cáo là người nghiện ma túy nên đã bất chấp pháp luật tìm mua ma túy để sử dụng và bị bắt quả tang khi đang tàng trữ 0,1702 gam Heroin. Hành vi của bị cáo rất nguy hiểm cho xã hội, đe dọa nghiêm trọng đến an toàn, trật tự công cộng, sức khỏe và sự phát triển lành mạnh của nòi giống cũng như ảnh hưởng xấu đến nhiều mặt của đời sống xã hội. Bị cáo không có các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điều 52 bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ hình phạt quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017.

Với tính chất mức độ phạm tội của bị cáo, trên cơ sở cân nhắc các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo xét thấy rằng cần phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để giáo dục bị cáo trở thành người có ích cho xã hội, đồng thời phòng ngừa tội phạm chung cho xã hội.

Đối với người thanh niên mua ma túy dùm cho A, do không rõ lai lịch nên sẽ tiếp tục xác minh, làm rõ.

Về ý kiến của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy Phong:

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy Phong về tội danh, điều luật áp dụng, mức hình phạt là tương xứng với mức độ hành vi phạm tội của bị cáo.

Về tang vật chứng:

Đối với 06 đoạn ống nhựa màu vàng đã cắt lấy mẫu và 0,0886 gam mẫu vật còn lại sau giám định được niêm phong trong phong bì số 1212, có chữ ký của giám định viên Đinh Trung Hiếu và hình dấu tròn màu đỏ của Phòng kỷ thuật hình sự - Công an tỉnh Bình Thuận là vật cấm lưu hành nên tịch thu tiêu hủy.

Đối với số tiền thu giữ trên người của bị cáo A gồm 14.950.000 đồng và thu giữ chiếc xe mô tô biển số 86B1 – 27728, trong đó chứng minh được 11.950.000 đồng là tiền của vợ chồng A và chiếc xe mô tô biển số 86B1 – 27728 xác định tài sản của A và là phương tiện sử dụng chung của vợ chồng A không liên quan đến vụ án nên Cơ quan điều tra đã trao trả lại cho Nguyễn Thị Ngọc D là vợ của A là đúng quy định của pháp luật.

Đối với số tiền 3.000.000 đồng trong số 14.950.000 đồng thu giữ của bị cáo mà Cơ quan điều tra đã chuyển vào tài khoản tạm gửi của Chi cục thi hành án dân sự huyện Tuy Phong theo biên lai thu tiền số 0002265 ngày 18.3.2019 do không liên quan đến vụ án nên trả lại cho bị cáo.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

[1] Tuyên bố: Bị cáo Đỗ Thanh A phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Áp dụng: điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ Luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017.

Xử phạt: bị cáo Đỗ Thanh A 18 (mười tám) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 28.12.2018.

[2] Biện pháp tư pháp: Áp dụng điểm a, b khoản 1 Điều 46; điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ Luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017; điểm a khoản 2, khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

Tuyên tịch thu tiêu hủy toàn bộ mẫu vật được hoàn lại sau giám định đã được niêm phong trong phong bì số 1212 theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 08/4/2019 giữa Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tuy Phong và Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Tuy Phong).

Trả lại cho bị cáo A số tiền 3.000.000đ (theo biên lai thu tiền số 0002265 ngày 18/3/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tuy Phong).

[3] Về án phí: Bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án

[4] Về quyền kháng cáo: Án xử công khai có mặt bị cáo. Báo cho bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (13/6/2019).

Cỡ chữ