vanban.org

Bản án 44/2019/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Bình Xuyên, tỉnh Vĩnh Phúc Tuyên án 14/06/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Tiến D phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Tiến D 01 (Một) năm 03 (Ba) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 02 (Hai) năm 06 (Sáu) tháng, thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo Nguyễn Tiến D cho Ủy ban nhân dân xã P, huyện P, tỉnh Thái Nguyên giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.…

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Tiến D - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Tiến D phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
  • Căn cứ chính? Điều 65 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN BÌNH XUYÊN
TỈNH VĨNH PHÚC

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 44/2019/HS-ST
Ngày 14-6-2019

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH XUYÊN, TỈNH VĨNH PHÚC

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Trần Thị Lan.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Quang Thái.

Ông Nguyễn Đức Tiến.

- Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Thị Thành - Thư ký Toà án nhân dân huyện Bình Xuyên, tỉnh Vĩnh Phúc.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Xuyên, tỉnh Vĩnh Phúc tham gia phiên tòa: Ông Phan Anh - Kiểm sát viên.

Ngày 14 tháng 6 năm 2019, tại Tòa án nhân dân huyện Bình Xuyên, tỉnh Vĩnh Phúc xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 31/2019/TLST-HS ngày 07 tháng 5 năm 2019, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 42/2019/QĐXXST-HS ngày 04 tháng 6 năm 2019 đối với bị cáo:

Nguyễn Tiến D, sinh ngày 03 tháng 8 năm 1987 tại xã P, huyện P, tỉnh Thái Nguyên; nơi cư trú: Xóm C, xã P, huyện P, tỉnh Thái Nguyên; nghề nghiệp: Công nhân; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn H và bà Trần Thị D; có vợ là Trương Lệ P và có 02 con; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Tốt; tại ngoại tại địa phương, “có mặt”.

- Bị hại: Ông Đỗ Văn H, sinh năm 1957; nơi cư trú: Thôn V, xã T, huyện B, tỉnh Vĩnh Phúc, (đã chết).

- Người đại diện hợp pháp của bị hại: Anh Đỗ Văn H, sinh năm 1981; nơi cư trú: Thôn V, xã T, huyện B, tỉnh Vĩnh Phúc; là con bị hại, “có mặt”.

- Người tham gia tố tụng khác:

Người làm chứng: Ông Nguyễn Văn T và ông Đỗ Như P, “đều vắng mặt”.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Tiến D có giấy phép lái xe mô tô hạng A1 do Sở Giao thông vận tải Thái Nguyên cấp ngày 05 tháng 5 năm 2009. Khoảng 05 giờ ngày 29 tháng 12 năm 2018, D một mình điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda FUTURE màu đen dung tích xi lanh 124,8cm3 biển kiểm soát 20H1 – 348.70 từ nhà đến công ty ở Khu công nghiệp Khai Quang, thành phố Vĩnh Yên, đến khoảng 06 giờ cùng ngày, khi D đi đến đường Tôn Đức Thắng kéo dài thuộc địa phận thôn Quảng Khai, xã Thiện Kế, huyện Bình Xuyên, tỉnh Vĩnh Phúc. Đây là đoạn đường đôi có dải phân cách cứng phân chia thành hai chiều đường, D điều khiển xe mô tô hướng xã Thiện Kế đi thành phố Vĩnh Yên đi ở làn đường giáp dải phân cách cứng, với tốc độ khoảng 60-70km/h, lúc này phía trước đầu xe mô tô D điều khiển có ông Đỗ Văn H đang điều khiển xe đạp đi từ đường khu tái định cư thôn Vĩnh Phượng sang phía dải phân cách cứng (đi ngang sang đường hướng từ bên phải sang bên trái theo chiều đi của D). Do trời mưa phùn, D đội mũ bảo hiểm có kính nên bị hạn chế tầm nhìn nhưng do chủ quan D vẫn tiếp tục giữ nguyên tốc độ nên khi ông H đi đến vị trí cách dải phân cách cứng khoảng 3,6m, xe mô tô của D điều khiển cách xe đạp của ông H khoảng 2-3m thì D mới phát hiện được và không kịp xử lý nên phần bánh trước xe mô tô do D điều khiển đã đâm ngang vào bên trái khung xe đạp do ông Đỗ Văn H điều khiển, làm cả hai bị đổ ngã xuống đường. Hậu quả, ông H bị thương nặng được đưa đi cấp cứu tại Bệnh viện hữu nghị Việt Đức – Hà Nội đến ngày 14 tháng 02 năm 2019 thì tử vong, D bị xây sát da nhẹ, xe mô tô và xe đạp bị hư hỏng.

Sau khi tai nạn xảy ra, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an Bình Xuyên đã tiến hành vẽ sơ đồ vụ tai nạn, chụp ảnh hiện trường và phương tiện, khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm phương tiện liên quan đến vụ tai nạn giao thông theo đúng quy định của pháp luật và các bên liên quan không có ý kiến gì.

Trên cơ sở trưng cầu của Cơ quan điều tra Công an huyện Bình Xuyên, ngày 15 tháng 02 năm 2019 Trung tâm Pháp y tỉnh Vĩnh Phúc đã kết luận: Nguyên nhân ông H tử vong là do bị: Đa chấn thương sau điều trị không hồi phục.

Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã thu giữ và trả lại xe mô tô nhãn hiệu Honda FUTURE biển kiểm soát 20H1 – 348.70 cùng đăng ký xe cho Nguyễn Tiến D; thu giữ và trả lại 01 xe đạp Việt Nhật đã cũ cho anh Đỗ Văn H; tạm giữ 01 Giấy phép lái xe hạng A1 của Nguyễn Tiến D.

Tại Cáo trạng số 31/CT - VKSBX ngày 05 tháng 5 năm 2019, Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Xuyên truy tố bị cáo Nguyễn Tiến D về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát trình bày lời luận tội đối với Nguyễn Tiến D, giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo như Cáo trạng đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1, 2 và 5 Điều 65 Bộ luật Hình sự 2015 xử phạt bị cáo D từ 01 năm đến 01 năm 03 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách gấp đôi.

Về trách nhiệm dân sự và xử lý vật chứng của vụ án: Đề nghị ghi nhận sự tự nguyện thoả thuận bồi thường thiệt hại dân sự giữa bị cáo và người đại diện hợp pháp của bị hại với tổng số tiền là 100 triệu đồng; trả lại 01 giấy phép lái xe cho Nguyễn Tiến D do không liên quan đến việc phạm tội.

Ý kiến của những người tham gia tố tụng:

Quá trình điều tra và tại phiên tòa, đại diện hợp pháp của bị hại là anh Đỗ Văn H xác nhận đã nhận đủ số tiền bồi thường là 100 triệu đồng của bị cáo và không có yêu cầu gì khác về dân sự, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt và cho bị cáo được hưởng án treo.

Người làm chứng là ông Nguyễn Văn T và ông Đỗ Như P tuy vắng mặt tại phiên tòa nhưng quá trình điều tra hai ông đều thừa nhận toàn bộ diễn biến nội dung vụ án đúng như lời khai của bị cáo. Ngoài ra các ông không có ý kiến gì khác.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên và của Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử được thực hiện đầy đủ, đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, đương sự không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng. Do đó các quyết định, hành vi của người tiến hành tố tụng trong vụ án là hợp pháp.

[2] Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Tiến D thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung Cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Xuyên. Nguyễn Tiến D khai nhận: Khoảng 06 giờ ngày 29 tháng 12 năm 2018, bị cáo có giấy phép lái xe mô tô hạng A1 theo quy định (hợp lệ), điều khiển xe mô tô loại xe Honda Future màu đen, biển kiểm soát 20H1 – 348.70, dung tích xi lanh 124,8cm3 đi theo hướng xã Thiện Kế đi thành phố Vĩnh Yên với tốc độ khoảng 60-70km/h, khi đến đường Tôn Đức Thắng kéo dài, đoạn thuộc địa phận thôn Quảng Khai, xã Thiện Kế, huyện Bình Xuyên, tỉnh Vĩnh Phúc, lúc này có ông Đỗ Văn H đang điều khiển xe đạp đi ngang sang đường hướng từ mép đường bên phải sang dải phân cách cứng theo chiều đi của D. Do D không đảm bảo tốc độ đảm bảo an toàn theo quy định và trời mưa phùn, hạn chế tầm nhìn nên bánh trước xe mô tô do D điều khiển đã đâm vào phần khung bên trái xe đạp do ông Đỗ Văn H điều khiển làm cả hai bị ngã ra đường. Hậu quả, ông H bị thương nặng được đưa đi cấp cứu tại bệnh viện hữu nghị Việt Đức – Hà Nội đến ngày 14 tháng 02 năm 2019 thì tử vong, D bị xây sát nhẹ.

[3] Lời nhận tội của bị cáo là phù hợp với các tài liệu có trong hồ sơ như lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, lời khai của người đại diện hợp pháp của bị hại, lời khai của người làm chứng; sơ đồ vụ tai nạn, biên bản khám nghiệm hiện trường, biên bản khám nghiệm phương tiện giao thông có liên quan đến vụ tai nạn; kết luận giám định pháp y; bản ảnh chụp tại hiện trường cùng các tài liệu, chứng cứ khác được thu thập hợp pháp có trong hồ sơ vụ án.

Hành vi điều khiển xe mô tô của Nguyễn Tiến D đã vi phạm khoản 1 Điều 12 Luật Giao thông đường bộ quy định về tốc độ xe và vi phạm khoản 2, 11 Điều 5 Thông tư 91/2015/TT-BGTVT ngày 31/12/2015 của Bộ Giao thông vận tải quy định về tốc độ và khoảng cách của xe cơ giới, xe máy chuyên dùng tham gia giao thông đường bộ đã gây hậu quả làm ông Đỗ Văn H bị tử vong. Vì vậy, có đủ cơ sở để kết luận hành vi của Nguyễn Tiến D đã phạm vào tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”; tội danh được quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự năm 2015 có khung hình phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.

[4] Xét tính chất vụ án là nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội đã xâm phạm trật tự an toàn giao thông đường bộ gây ra thiệt hại cho tính mạng của người khác, làm ảnh hưởng đến cuộc sống của gia đình bị hại cũng như của gia đình bị cáo. Nguyên nhân chủ yếu là do ý thức chấp hành Luật Giao thông đường bộ của bị cáo còn kém. Đấu tranh với các hành vi vi phạm quy định an toàn giao thông nói chung trong đó có an toàn giao thông đường bộ nói riêng nhằm thiết lập lại sự bình yên, hạnh phúc cho mọi người và trật tự, an toàn cho xã hội là cần thiết.

[5] Xét nhân thân cũng như các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo thấy rằng: Bị cáo được hưởng ba tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 và một tình tiết giảm nhẹ tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự đó là đã tự nguyện khắc phục hậu quả với số tiền 100 triệu đồng để thăm hỏi, động viên và giúp gia đình bị hại tổ chức việc mai táng, thờ cúng bị hại; thành khẩn khai báo; ăn năn hối cải và bị hại có một phần lỗi là điều khiển xe đạp sang đường không đảm bảo an toàn.

Tuy hậu quả gây ra là nghiêm trọng nhưng trước khi phạm tội bị cáo có nhân thân tốt, phạm tội lần đầu, được người đại diện hợp pháp của bị hại có đơn xin miễn trách nhiệm hình sự và tại phiên tòa xin cho bị cáo được hưởng án treo với mức án thấp nhất. Do bị cáo được hưởng nhiều tình tiết giảm nhẹ nên hành vi phạm tội của bị cáo đáng được khoan hồng và có đủ điều kiện để áp dụng Điều 65 Bộ luật Hình sự. Vì vậy, không cần thiết bắt bị cáo phải chấp hành hình phạt tù tại Trại giam mà cho bị cáo hưởng án treo, ấn định thời gian thử thách và giao cho chính quyền địa phương nơi thường trú giám sát, giáo dục với mức án như đề nghị của Viện kiểm sát là đủ tác dụng để răn đe, phòng ngừa chung cũng như tạo điều kiện giúp bị cáo có cơ hội tự cải tạo, sửa chữa sai lầm để trở thành công dân có ích cho xã hội.

[6] Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra giữa bị cáo với người đại diện hợp pháp của bị hại cùng thống nhất thoả thuận về bồi thường dân sự với tổng số tiền là 100 triệu đồng; đồng thời tại phiên tòa bị cáo và đại diện hợp pháp của bị hại đề nghị ghi nhận về việc tự nguyện thỏa thuận bồi thường dân sự. Xét đây là thoả thuận tự nguyện và không trái pháp luật, Hội đồng xét xử sẽ ghi nhận.

[7] Về vật chứng của vụ án: Bị cáo, Đại diện hợp pháp của bị hại xác nhận đã được Cơ quan điều tra trả lại tài sản là xe mô tô cùng đăng ký xe (của bị cáo) và chiếc xe đạp (của bị hại) bị thu giữ để phục vụ giải quyết vụ án và không có yêu cầu gì nên Toà không xét. Đối với giấy phép lái xe của bị cáo thì cần trả lại cho bị cáo do không liên quan đến việc phạm tội.

[8] Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Tiến D phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1, khoản 2 và khoản 5 Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Tiến D 01 (Một) năm 03 (Ba) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 02 (Hai) năm 06 (Sáu) tháng, thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo Nguyễn Tiến D cho Ủy ban nhân dân xã P, huyện P, tỉnh Thái Nguyên giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 69 của Luật Thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố tình vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

Áp dụng Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Trả lại cho Nguyễn Tiến D 01 giấy phép lái xe ô tô hạng A1 số AK 420920 do Sở giao thông vận tải tỉnh Thái Nguyên cấp ngày 05 tháng 5 năm 2009 (giấy phép lái xe do Tòa án tạm giữ).

Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng khoản 1 Điều 48 Bộ luật Hình sự 2015; các Điều 584, 585, 586 và 591 của Bộ luật Dân sự 2015.

Ghi nhận sự tự nguyện thỏa thuận về việc bồi thường thiệt hại dân sự giữa bị cáo Nguyễn Tiến D cho người đại diện hợp pháp của bị hại với tổng số tiền là 100.000.000 đồng (Một trăm triệu đồng). Xác nhận người đại diện hợp pháp của bị hại là anh Đỗ Văn H đã nhận đủ số tiền trên theo giấy biên nhận tiền ngày 20 tháng 02 năm 2019.

Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Nguyễn Tiến D phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án bị cáo, đại diện hợp pháp của bị hại có quyền kháng cáo bản án để yêu cầu xét xử phúc thẩm./.

Cỡ chữ