vanban.org

Bản án 44/2019/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Hoàng Thị Xuấn - Tạ Hữu Phước ly hôn"
  • Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TH XÃ Ĩ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH BÌNH DƢƠNG
——————————
Bản án số: 44/2019/HNGĐ-ST
Ngày 31-5-2019
V/v tranh chấp ly hôn, nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA N NH N N TH XÃ Ĩ AN T NH NH Ư NG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Chu Thị Vân.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Văn Nông.

2. Bà Châu Hồng Nga.

- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Trung Hiếu - Thƣ ký Tòa án nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Ông Lê Thanh Tùng - Kiểm sát viên.

Ngày 31 tháng 5 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và Gia đình thụ lý số: 132/2019/TLST-HNGĐ ngày 27-02-2019 về việc “Tranh chấp ly hôn, nuôi con” theo Quyết định đƣa vụ án ra xét xử số: 40/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 25 tháng 4 năm 2019, giữa các đƣơng sự:

- Nguyên đơn: Bà Hoàng Thị X, sinh năm 1967; thƣờng trú: Số 01, khu phố 6, phƣờng T, thành phố B, tỉnh Đ; tạm trú: Tổ 7, khu phố 1A, phƣờng A, thị xã T, tỉnh B. (Có yêu cầu giải quyết vắng mặt)

- Bị đơn: Ông Tạ Hữu Ph, sinh năm 1972; thƣờng trú: Số 01, khu phố 6, phƣờng T, thành phố B, tỉnh Đ; tạm trú: Số 36/14 khu phố Đ, phƣờng T, thị xã Dĩ An, tỉnh B. (Vắng mặt)

NỘI UNG VỤ N:

Theo đơn khởi kiện ngày 20-02-2019 và các lời khai trong quá trình tố tụng, nguyên đơn bà Hoàng Thị X trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Bà Hoàng Thị X và ông Tạ Hữu Ph tự nguyện chung sống với nhau vào năm 2002, có tổ chức lễ cƣới và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phƣờng T, thành phố B, tỉnh Đ, đƣợc cấp giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 50, quyển số 01/2002 ngày 12-4-2002. Bà X xác định quá trình chung sống vợ chồng xảy ra nhiều mâu thuẫn. Nguyên nhân là do vợ chồng không có tiếng nói chung, ông Ph không phụ bà trong việc chăm sóc con cái và gia đình, thƣờng xuyên uống rƣợu với bạn bè rồi về nhà chửi bới vợ con, ông Ph còn tham gia đánh bạc nhiều lần dẫn đến nợ nần. Để các con có cuộc sống đầy đủ cả cha và mẹ bà X đã nhiều lần tha thứ nhƣng ông Ph vẫn không thay đổi. Cuộc sống hôn nhân ngày càng căng thẳng, vợ chồng không thể tiếp tục sống chung với nhau nên bà cùng hai con đã chuyển đến nhà em ruột của bà tên Hoàng Thị Xuyến tại tổ 7, khu phố 1A, phƣờng A, thị xã T, tỉnh B sinh sống từ giữa năm 2018 đến nay. Nay bà X xác định tình cảm vợ chồng không còn nên yêu cầu đƣợc ly hôn với ông Ph.

- Về con chung: Quá trình chung sống bà X và ông Ph có 02 (hai) ngƣời con chung tên Tạ Hoàng Ph, sinh ngày 03/6/2003 và Tạ Hoàng Hữu L, sinh ngày 21/12/2007. Hiện nay các con đang ở chung với bà X tại tổ 7, khu phố 1A, phƣờng A, thị xã T, tỉnh B. Từ khi hai vợ chồng sống ly thân ông Ph không hỗ trợ tài chính cho bà để nuôi các con. Hiện bà đã có việc làm và thu nhập ổn định mỗi tháng khoảng 6.500.000 đồng nên bà yêu cầu đƣợc trực tiếp chăm sóc, nuôi dƣỡng các con và không yêu cầu ông Ph cấp dƣỡng nuôi con.

- Về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản: Đƣơng sự không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Bị đơn ông Tạ Hữu Ph đã đƣợc Tòa án thông báo tham gia tố tụng, tống đạt các văn bản tố tụng nhƣng anh không đến Tòa án làm việc, không cung cấp lời khai, không có yêu cầu phản tố, không cung cấp chứng cứ để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến: Quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trƣớc thời điểm Hội đồng xét xử nghị án Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thƣ ký phiên tòa và ngƣời tham gia tố tụng đã chấp hành đúng pháp luật về tố tụng dân sự. Nguyên đơn có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt, bị đơn đƣợc Tòa án triệu tập hợp lệ nhƣng vắng mặt nên căn cứ vào cá Điều 227, 228 và 238 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn là đúng quy định. Về nội dung vụ án: Căn cứ các Điều 51, 56, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN Đ NH CỦA TÒA N:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đƣợc thẩm tra tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát tham gia phiên tòa, Tòa án nhận định:

[1] Bà Hoàng Thị X khởi kiện ông Tạ Hữu Ph yêu cầu đƣợc ly hôn nên đây là vụ án hôn nhân và gia đình tranh chấp ly hôn theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn ông Tạ Hữu Ph có nơi cƣ trú tại khu phố Đ, phƣờng T, thị xã D, tỉnh B nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Dĩ An theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt. Bị đơn đã đƣợc Tòa án triệu tập hợp lệ để tham gia phiên tòa vào các ngày 13/5/2019 và ngày 31/5/2019 nhƣng đều vắng mặt không lý do. Căn cứ các Điều 227, 228 và 238 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn.

[2] Về quan hệ hôn nhân: Bà Hoàng Thị X và ông Tạ Hữu Ph có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phƣờng Tam Hiệp, thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai, đƣợc cấp giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 50, quyển số 01/2002 ngày 12-4-2002 nên đây là hôn nhân hợp pháp. Bà X xác định quá trình chung sống vợ chồng xảy ra nhiều mâu thuẫn. Nguyên nhân là do vợ chồng không có tiếng nói chung, ông Ph không phụ bà trong việc chăm sóc con cái và gia đình, thƣờng xuyên uống rƣợu với bạn bè rồi về nhà chửi bới vợ con, ông Ph còn tham gia đánh bạc nhiều lần dẫn đến nợ nần. Để các con có cuộc sống đầy đủ cả cha và mẹ bà X đã nhiều lần tha thứ nhƣng ông Ph không thay đổi. Cuộc sống hôn nhân ngày càng căng thẳng, vợ chồng không thể tiếp tục sống chung nên bà cùng hai con đã chuyển đến tổ 7, khu phố 1A, phƣờng An Phú, thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng sống riêng từ giữa năm 2018 đến nay và yêu cầu đƣợc ly hôn. Xét thấy mục đích của hôn nhân là nhằm xây dựng gia đình no ấm, bình đẳng, hạnh phúc; để đạt đƣợc mục đích đó vợ chồng cần phải thƣơng yêu, tin tƣởng, quý trọng, chăm sóc, giúp đỡ, tạo điều kiện cho nhau phát triển về mọi mặt, xây dựng gia đình ấm no hạnh phúc. Bà X xác định quan hệ hôn nhân của vợ chồng có nhiều mâu thuẫn và hiện cả hai đã ly thân, không còn quan tâm chăm sóc lẫn nhau. Ông Ph đã đƣợc Tòa án triệu tập làm việc và tham gia hòa giải nhiều lần nhƣng đều vắng mặt. Quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã xác minh, trƣớc khi Tòa án thụ lý vụ án bà X và ông Ph không ai có đơn đề nghị hòa giải tại cơ sở, điều này phù hợp với lời khai của nguyên đơn. Cháu Phúc, cháu Lộc và bà Hoàng Thị Xuyến đều có lời khai thể hiện hiện nay bà X và ông Ph đã sống ly thân, cuộc sống hôn nhân của vợ chồng có nhiều mâu thuẫn nhƣ bà X đã trình bày. Điều này chứng tỏ mâu thuẫn giữa bà X và ông Ph đã thực sự trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt đƣợc. Do đó, bà X yêu cầu đƣợc ly hôn với ông Ph là có căn cứ chấp nhận, phù hợp với quy định tại Điều 51 và Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình.

[3] Về con chung: Quá trình chung sống bà X và ông Ph có 02 (hai) ngƣời con chung tên Tạ Hoàng Phúc, sinh ngày 03/6/2003 và Tạ Hoàng Hữu Lộc, sinh ngày 21/12/2007. Hiện nay các con đang ở chung với bà X tại tổ 7, khu phố 1A, phƣờng A, thị xã T, tỉnh B. Sau khi ly hôn bà X yêu cầu đƣợc trực tiếp chăm sóc, nuôi dƣỡng hai con và không yêu cầu ông Ph cấp dƣỡng nuôi con. Khi Tòa án giải quyết việc ly hôn cần xem xét đến sự phát triển của con chƣa thành niên để quyết định việc giao con cho cha hay mẹ trực tiếp nuôi dƣỡng. Xét thấy, cháu Phúc và cháu Lộc từ trƣớc đến nay đều sống cùng bà X vẫn phát triển tốt, mặt khác tại bản tự khai các cháu đều có nguyện vọng đƣợc tiếp tục chung sống với mẹ. Bà X đã có việc làm và thu nhập ổn định đảm bảo cho việc chăm sóc và nuôi dƣỡng các con. Vì vậy, bà X yêu cầu đƣợc trực tiếp nuôi dƣỡng hai con chung là có căn cứ, phù hợp với các Điều 81, 82 Luật Hôn nhân và gia đình. Bà X không yêu cầu ông Ph cấp dƣỡng nuôi con, xét đây là ý chí tự nguyện của bà nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[4] Về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản: Đƣơng sự không yêu cầu nên Tòa án không xem xét, giải quyết.

[5] Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và chấp nhận đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng.

[6] Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Hoàng Thị X phải chịu án phí ly hôn theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT Đ NH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 228 và các Điều 227, 238, 266, 271 và 273 Bộ luật Tố tụng Dân sự; các Điều 51, 56, 81, 82, 83 và 84 Luật Hôn nhân và Gia đình; điểm a khoản 5 và điểm a khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thƣờng vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Hoàng Thị X đối với ông Tạ Hữu Ph về việc ly hôn.

- Về quan hệ hôn nhân: Bà Hoàng Thị X đƣợc ly hôn với ông Tạ Hữu Ph.

- Về con chung: Giao 02 (hai) con chung tên Tạ Hoàng Ph, sinh ngày 03/6/2003 và Tạ Hoàng Hữu L, sinh ngày 21/12/2007 cho bà Hoàng Thị X trực tiếp chăm sóc, nuôi dƣỡng.

- Về cấp dƣỡng nuôi con: Đƣơng sự không yêu cầu nên Tòa án không xem xét, giải quyết.

Sau ly hôn, bà X và ông Ph đều có quyền chăm sóc, thăm nom, giáo dục con, không ai có quyền cản trở ông, bà thực hiện quyền này. Trƣờng hợp ông Ph lạm dụng việc đi lại, thăm nom con gây ảnh hƣởng xấu đến việc bà X nuôi con thì bà có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con theo quy định của pháp luật. Vì lợi ích về mọi mặt của con khi một hoặc cả hai bên đƣơng sự có yêu cầu, Tòa án sẽ quyết định thay đổi ngƣời trực tiếp nuôi con và việc cấp dƣỡng.

- Về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản: Đƣơng sự không yêu cầu nên Tòa án không xem xét, giải quyết.

2. Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Hoàng Thị X phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn, đƣợc khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0028112, ngày 27-02-2019 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng.

3. Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt đƣợc quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận đƣợc bản án hoặc bản án đƣợc tống đạt hợp lệ.

Trƣờng hợp bản án, quyết định đƣợc thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì ngƣời đƣợc thi hành án dân sự, ngƣời phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cƣỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án đƣợc thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ