- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn vụ G - H"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chị Đoàn Minh G được ly hôn anh Phạm Hồng H.
- Căn cứ chính? Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐIỆN BIÊN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH ĐIỆN BIÊN ___________ Bản án số: 44/2019/HNGĐ - ST Ngày 29 - 10 - 2019 V/v: Ly hôn và tranh chấp vê nuôi con |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐIỆN BIÊN, TỈNH ĐIỆN BIÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đặng Thị Thùy Dương
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông: Nguyễn Văn Đình
Ông: Lò Văn Thương
Thư ký phiên tòa: Ông Lường Văn Đoản - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Điện Biên tham gia phiên tòa:
Bà Phạm Thị Hoàn - Kiểm sát viên.
Ngày 29/10/2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 105/2019/TLST - HNGĐ ngày 14 tháng 3 năm 2019 về việc Ly hôn và tranh chấp về nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 43/2019/QĐXXST - HNGĐ ngày 12 tháng 9 năm 2019 và Quyết định hoãn phiên tòa số 28/2019/QĐST -HNGĐ ngày 11 tháng 10 năm 2019 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Đoàn Minh G - Sinh năm 1986
Địa chỉ: Đội A, xã T, huyện Đ, tỉnh Điện Biên
2. Bị đơn: Anh Phạm Hồng H, sinh năm 1984
Địa chỉ: Đội A, xã T, huyện Đ, tỉnh Điện Biên
( Nguyên đơn có mặt, bị đơn vắng mặt không lý do)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện đề ngày 04/3/2019 và trong quá trình xét xử nguyên đơn chị Đoàn Minh G trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Phạm Hồng H kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện Đ, tỉnh Điện Biên vào ngày 14/12/2005. Anh chị kết hôn trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện không bị ai ép buộc. Sau khi kết hôn, chị và anh H chung sống hòa thuận hạnh phúc đến tháng 5 năm 2017 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, anh H có sử dụng ma túy nên thường xuyên cãi nhau. Hai bên gia đình đã hòa giải nhiều nhưng không thành. Vợ chồng đã ly thân từ tháng 5 năm 2017 cho đến nay. Chị G xác định tình cảm giữa chị và anh H không còn, cuộc sống chung không có hạnh phúc nên chị đề nghị Tòa án nhân dân huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên giải quyết cho chị được ly hôn với anh Phạm Hồng H.
Về con chung: Chị Đoàn Minh G và anh Phạm Hồng H có 02 con chung là cháu Phạm Hồng T sinh ngày 27/8/2006 và cháu Phạm H, sinh ngày 14/3/2012. Quan điểm của chị G, cả 02 con chung sẽ do chị trực tiếp chăm sóc và nuôi dưỡng. Về cấp dưỡng nuôi con, chị G không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản:
- Tài sản chung; tài sản riêng: Chị G không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Nợ lấy về; nợ phải trả; diện tích ruộng: Chị G khai không có
Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án nhân dân huyện Điện Biên đã gửi thông báo về việc thụ lý vụ án, thông báo các nội dung và yêu cầu cụ thể của chị G cho anh H biết để anh H thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình nhưng anh H không gửi ý kiến bằng văn bản đến Tòa án. Tòa án đã trực tiếp tống đạt các văn bản tố tụng cho anh H, mặc dù anh H có mặt tại nhà nhưng không nhận bất cứ văn bản tố tụng nào của Tòa án.
Trong quá trình giải quyết vụ án, mặc dù đã được triệu tập hợp lệ mà anh H vẫn cố tình vắng mặt nên Tòa án không tiến hành hòa giải được.
Tại các biên bản ghi ý kiến của con chung đề ngày 17 tháng 4 năm 2019, các cháu Phạm Hồng T và Phạm Hồng T đều trình bày:
Bố mẹ các cháu ly hôn các cháu đều không có ý kiến gì. Cháu Thịnh và cháu Thái đều có nguyện vọng được ở cùng mẹ để mẹ các cháu chăm sóc và nuôi dưỡng.
Tại phiên tòa: Bị đơn anh Phạm Hồng H đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vẫn vắng mặt, không có đơn xin xét xử vắng mặt. Nguyên đơn chị Đoàn Minh G vẫn giữ nguyên quan điểm đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh H và giải quyết quan hệ con chung theo nội dung đơn xin ly hôn chị đã trình bày.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Điện Biên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử; Thư ký Tòa án và nguyên đơn trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý vụ án đến trước thời điểm HĐXX vào nghị án đã thực hiện đúng theo các quy định của bộ luật tố tụng dân sự. Đối với bị đơn, trong quá trình giải quyết vụ án mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng bị đơn vẫn vắng mặt tại buổi hòa giải và tại phiên tòa, vi phạm các Điều 70; 72/BLTTDS.
Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ các Điều 53; Điều 56; Điều 58; Điều 69; Điều 81; Điều 82; Điều 83; Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị G; Giao 02 con chung cho chị Đoàn Minh G trực tiếp chăm sóc và nuôi dưỡng. Áp dụng khoản 4 Điều 147/BLTTDS; Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội khóa 14. Chị G phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa và căn cứ kết quả tranh tụng, Hội đồng xét xử xét thấy:
Về áp dụng pháp luật tố tụng:
Chị Đoàn Minh G yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh Phạm Hồng H và đề nghị Tòa giải quyết về con chung. Đây là vụ án về việc Ly hôn và tranh chấp về nuôi con. Anh H hiện nay đang cư trú tại Đội 04A, xã Thanh Yên, huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên nên theo quy định tại khoản 1 Điều 28; Điểm a khoản 1 Điều 35; Khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng Dân sự năm 2015, tranh chấp trên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Điện Biên.
Ngày 11 tháng 10 năm 2019, Tòa án mở phiên tòa xét xử vụ án tranh chấp ly hôn giữa chị G và anh H nhưng anh H vắng mặt không có lý do. Hội đồng xét xử đã Quyết định hoãn phiên tòa theo quy định tại khoản 1 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự.
Tại phiên tòa anh Phạm Hồng H đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ 2 nhưng anh H vẫn vắng mặt, vì vậy căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227/BLTTDS, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt anh H.
Về quan hệ hôn nhân:
Chị Đoàn Minh G và anh Phạm Hồng H kết hôn vào ngày 14/12/2005 tại Ủy ban nhân dân xã Thanh Yên, huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên. Chị G và anh H kết hôn với nhau là tự nguyện, không bị ai ép buộc và tuân thủ đầy đủ các qui định của pháp luật về điều kiện kết hôn và đăng ký kết hôn theo qui định tại Điều 9; Điều 11 Luật hôn nhân gia đình năm 2000. Vì vậy quan hệ hôn nhân giữa chị G và anh H là hôn nhân hợp pháp. Trong quá trình chung sống cùng nhau, chị G khai vợ chồng có nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống, anh H có sử dụng ma túy nên thường xuyên cãi nhau. Tại biên bản xác minh ngày 14/6/2019, bà Đinh Thị M đội trưởng đội A, xã T, huyện Đ đã cung cấp: Anh H và chị G đều có hộ khẩu tại đội A, xã T. Trong quá trình chung sống cùng nhau, anh chị thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân là do anh H sử dụng chất ma túy. Chị G đã đưa 02 con chung về nhà bố mẹ đẻ sinh sống từ tháng 5 năm 2017 cho đến nay. Hội đồng xét xử nhận định, mâu thuẫn giữa chị G và anh H là có thật, vì anh H đã sử dụng chất ma túy nên đã không làm tròn trách nhiệm của mình, thiếu sự quan tâm chăm sóc vợ, con làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Vì vậy Hội đồng xét xử căn cứ vào qui định tại Điều 56 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014 cần chấp nhận nguyện vọng xin ly hôn của chị G.
Về con chung: Chị G và anh H có 02 con chung là cháu Phạm Hồng T sinh ngày 27/8/2006 và cháu Phạm Hồng T, sinh ngày 14/3/2012. Quan điểm của chị G xin trực tiếp chăm sóc và nuôi dưỡng 02 con chung và không yêu cầu Tòa án giải quyết về cấp dưỡng nuôi con. Hội đồng xét xử xét thấy, từ khi chị G và anh H ly thân, cả 02 con chung đều sinh sống cùng chị G, nghề nghiệp của chị G là làm ruộng và đi làm thêm nên có thu nhập ổn định, chị có thời gian chăm sóc các con, các con chung đều có nguyện vọng được ở cùng mẹ. Vì vậy, để đảm bảo quyền lợi cho các cháu và đảm bảo sự phát triển về mọi mặt của trẻ, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của chị G, giao cả 02 con chung cho chị G trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Về cấp dưỡng nuôi con, chị G không yêu cầu Tòa án giải quyết, vì vậy Hội đồng xét xử không xem xét.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Vì lợi ích của con, trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức quy định tại khoản 5 Điều 84 Luật Hôn nhân gia đình, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con.
Về tài sản: Tài sản chung; tài sản riêng: Chị G không yêu cầu Tòa án giải quyết. Nợ lấy về; nợ phải trả; diện tích ruộng: Chị G khai không có. Vì vậy HĐXX không xem xét.
Về án phí: Theo quy định tại khoản 4 Điều 147/BLTTDS; Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, chị G phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng Dân sự; khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 56; Điều 57; Điều 58; Điều 81 Điều 82; Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Khoản 4 Điều 147/BLTTDS; Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Đoàn Minh G được ly hôn anh Phạm Hồng H.
2. Về con chung: Chị Đoàn Minh G được quyền trực tiếp chăm sóc và nuôi dưỡng 02 con chung là Phạm Hồng T sinh ngày 27/8/2006 và cháu Phạm Hồng T sinh ngày 14/3/2012 đến khi các con chung thành niên và có khả năng lao động. Về cấp dưỡng nuôi con, chị Đoàn Minh G không yêu cầu Tòa giải quyết.
Sau khi ly hôn người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Vì lợi ích của con, trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức quy định tại khoản 5 Điều 84 Luật Hôn nhân gia đình, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con.
3. Về tài sản: Tài sản chung; tài sản riêng: Chị G không yêu cầu Tòa án giải quyết. Nợ lấy về; nợ phải trả; diện tích ruộng: Chị G khai không có.
4. Về án phí: Chị Đoàn Minh G phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí DSST chị G đã nộp theo biên lai thu tiền số AA/2016/0003102 ngày 14/3/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Điện Biên. Chị G đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.
5. Quyền kháng cáo: Chị Đoàn Minh G được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 29/10/2019). Anh Phạm Hồng H vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án chính hoặc niêm yết bản án.
| Nơi nhận: - TAND Tỉnh - VKSND H.ĐB - Chi cục THSDS H.ĐB; - Đương sự; - UBND xã T; - Lưu. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Đặng Thị Thùy Dƣơng |